Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Kim Hoàn; Bà Mai Thị Hiền

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Thị Minh H - Sinh ngày 20/7/1973, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai.

    Nơi cư trú: thôn C, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

    Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Lào; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Lại Thị N (đều đã chết); Chồng là Phạm Văn T1; Bị cáo có 02 con;

    Tiền án: Không; Tiền sự: Không

    Nhân thân: Bản án số: 87/HSST ngày 20/9/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Thị Minh H 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù tháng 9 năm 1998; Bản án số: 19/HSST ngày 15/10/2001 của Tòa án nhân dân thị xã Cam Đường, tỉnh Lào Cai và Bản án giám đốc thẩm số: 13/HS- GĐT ngày 06/12/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Thị Minh H 02 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”; Bản án số: 160/HSST ngày 25/12/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Thị Minh H 10 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” và tổng hợp bản án số 13/HS - GĐT ngày 06/12/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai buộc Trần Thị Minh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 năm 06 tháng tù, đã chấp hành xong bản án; Bản án: 112/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt Trần Thị Minh H 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 17/4/2020 chấp hành xong bản án. Tính đến lần phạm tội này đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1 - Sinh ngày 20/10/1965, tại huyện K, tỉnh Thái Bình.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ I, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

    Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim B và bà Trần Thị M (đều đã chết); Bị cáo có vợ thứ nhất Đỗ Thị T2, vợ thứ hai Nguyễn Thị Hồng T3 (đều đã ly hôn); Bị cáo có 03 con; Tiền án: 01 tiền án, Bản án số: 29/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Văn H1 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 15 tháng 12 năm 2023 đã chấp hành xong; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số: 59/2006/HSST ngày 25/5/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Văn H1 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” đã chấp hành xong bản án; Bản án số: 53/2016/HSST ngày 02/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Văn H1 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tháng 12 năm 2017 chấp hành xong; Quyết định số: 1957/QĐ-UBND ngày 11/11/2010 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, tháng 10/2011 chấp hành xong.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”.

  3. Họ và tên: Hoàng Bình T4 - Sinh ngày 20/9/1987, tại huyện Y, tỉnh Yên Bái.

    Nơi cư trú: Tổ E, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai;

    Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Phi L; Con bà Lương Thị L1; Bị cáo chưa có vợ, con;

    Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự, Quyết định số: 134/2022 ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng, ngày 06/10/2023 chấp hành xong tính đến ngày phạm tội chưa được xóa tiền sự.

    Bị bắt tạm giữ từ ngày 28/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 26/4/2024, Trần Thị Minh H đang ở tại thôn C, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì có người nam giới tên H2 (Trần Thị Minh H không biết họ, tên tuổi địa chỉ) đến đứng ngoài cổng nhà gọi, H đi ra ngoài cổng, H2 hỏi H “dạo này chị còn làm không”, Trần Thị Minh H hiểu ý H2 hỏi có còn bán ma túy không, H trả lời “không”, H2 nói với H là biết chỗ mua được ma túy Heroine. Nghe xong Trần Thị Minh H nảy sinh ý định mua ma tuý Heroine về bán kiếm lời nên đã đi vào trong nhà lấy 1.000.000 đồng ra đưa cho H2 và nói “lấy hộ chị”, H2 cầm tiền rồi đi khoảng một tiếng sau quay lại đứng ngoài cổng nhà gọi H ra cổng, H2 đút qua khe cổng vào cho H 01 gói nilon chứa ma túy H3, H cầm gói ma túy đi vào trong phòng ngủ cất. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Trần Thị Minh H đi vào phòng ngủ lấy gói ma túy mua được từ chiều ra ngồi trên giường mở kiểm tra, đổ số ma túy ra một khay kim loại, dùng dao lam cắt chia nhỏ số ma túy đó thành nhiều phần, Trần Thị Minh H cho 05 phần vào 05 mảnh giấy gói lại thành 05 gói rồi gói lớp ngoài bằng lớp nilon màu vàng sau đó Trần Thị Minh H cho 02 phần nhỏ hơn vào 02 mảnh giấy gói lại thành 02 gói rồi gói ngoài bằng nilon màu trắng với ý định bán lại gói to 400.000 đồng/gói, gói nhỏ là 100.000 đồng/gói rồi cất các gói ma túy vào túi nilon có mép miết rồi cho vào túi quần bên phải đang mặc. Số ma túy còn lại Trần Thị Minh H để lại trên khay kim loại để trên giường ngủ.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, Hoàng Bình T4 nảy sinh ý định đi mua ma tuý Heroine để sử dụng cho bản thân. Hoàng Bình T4 thuê xe ôm của anh Vũ Văn T5, sinh năm 1963, trú tại tổ A, phường B, thành phố L chở đến nhà Trần Thị Minh H tại ngã tư Làng D, thôn C, xã C, thành phố L, hỏi mua ma túy Heroine. Khi đi đến cổng nhà Trần Thị Minh H, Hoàng Bình T4 xuống xe, đi bộ đến trước cổng nhà Trần Thị Minh H gọi “chị H ơi, để cho em hai trăm nghìn”, Trần Thị Minh H đi ra cổng, Hoàng Bình T4 đút 200.000 đồng qua khe cổng, H cầm tiền rồi lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 túi nilon có mép miết lấy ra 02 gói nilon màu trắng đút qua khe cổng ra ngoài đưa cho Hoàng Bình T4. Còn Hoàng Bình T4 cầm 02 gói ma túy đứng ở ven đường đợi anh T5 chở về. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày về đến tổ A, phường P, thành phố L thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L yêu cầu dừng xe kiểm tra, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ của Hoàng Bình T4 02 gói nilon màu trắng ma tuý Heroine vừa mua được của Trần Thị Minh H. Ngoài ra còn tạm giữ của Vũ Văn T5 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 24B2 - 079.03.

Khoảng 20 giờ ngày 28/4/2024, Nguyễn Văn H1 đang ở nhà thì nẩy sinh ý định đi mua ma tuý Heroine về để bán kiếm lời nên đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K4 - 0304 đi đến nhà Trần Thị Minh H mục đích để mua ma túy. Khi đến nơi Nguyễn Văn H1 đứng ở ngoài cổng gọi “H ơi”, Trần Thị Minh H đi ra cổng, Nguyễn Văn H1 lấy 2.000.000 đồng đút qua khe cổng vào đưa cho Trần Thị Minh H, H cầm tiền và lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra đưa cho Nguyễn Văn H1 01 túi nilon có mép miết bên trong có 05 gói nilon màu vàng chứa ma túy Heroine đút qua khe cổng cho Nguyễn Văn H1. Nguyễn Văn H1 cầm túi ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà, khi đi đến khu vực đường H, tổ B, phường P, thành phố L thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố L yêu cầu dừng xe kiểm tra, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Nguyễn Văn H1 01 túi nilon có mép miết, bên trong có 5 gói nilon màu vàng là ma túy Heroine vừa mua được của Trần Thị Minh H. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn H1 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 24K4 - 0304; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi đã qua sử dụng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị Minh H phát hiện thu giữ trên mặt chiếc khay kim loại đặt trên giường, trong phòng ngủ các cục chất bột khô, màu trắng; 01 cân điện tử, 01con dao lam, 08 mảnh nilon. Trần Thị Minh H khai nhận các cục chất bột khô, màu trắng là ma tuý Heroine cất giấu để bán kiếm lời. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Thị Minh H tiền Ngân hàng N1 2.670.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, 01 điện thoại Iphone 7 Plus đã qua sử dụng.

Ngày 29/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H1 tại tổ I, phường B không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số: 183/GĐMT ngày 03/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,271 (không phẩy hai trăm bảy mươi mốt) gam các cục chất bột khô, màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Bình T4 ngày 28/4/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine; Tại bản kết luận giám định số: 184/GĐMT ngày 04/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 1,463 gam các cục chất bột khô, màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn H1 ngày 28/4/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine; Tại bản kết luận giám định số 185/GĐMT ngày 01/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,288 gam các chất bột khô, màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Trần Thị Minh H ngày 28/4/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số: 108/CT-VKSTPLC ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Trần Thị Minh H về tội “Mua trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố Nguyễn Văn H1 về tội “Mua trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố Hoàng Bình T4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Các bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 26/4/2024, Trần Thị Minh H đang ở nhà thì có người nam giới tên H2 hỏi H có còn bán ma túy không, H2 nói là biết chỗ mua được ma túy Heroine, H nảy sinh ý định mua ma tuý H3 về bán kiếm lời nên đã lấy 1.000.000 đồng ra đưa cho H2 và nói “lấy hộ chị”, H2 cầm tiền đi sau đó quay lại đưa cho Trần Thị Minh H 01 gói nilon ma túy Heroine. Trần Thị Minh H cất dấu gói ma túy trong phòng ngủ. H đã chia nhỏ số ma túy đó thành nhiều phần, cho 05 phần vào 05 mảnh giấy gói lại thành 05 gói rồi gói lớp ngoài bằng lớp nilon màu vàng, cho 02 phần nhỏ hơn vào 02 mảnh giấy gói lại thành 02 gói rồi gói ngoài bằng nilon màu trắng với ý định bán lại gói to 400.000 đồng/gói, gói nhỏ là 100.000 đồng/gói. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, H đã bán cho Hoàng Bình T4 02 gói với giá 200.000 đồng, T4 đi về đến tổ A, phường P, thành phố L thì bị bắt quả tang. Khoảng 20 giờ ngày 28/4/2024, H đã bán cho Nguyễn Văn H1 05 gói với số tiền 2.000.000 đồng, khi H1 đi đến khu vực đường H, thuộc tổ B, phường P, thành phố L thì bị bắt quả tang.

Theo kết luận giám định số ma túy thu giữ của Hoàng Bình T4 là 0,271 gam chất ma túy Heroine; Số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H1 là 1,463 gam chất ma túy Heroine; Số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của Trần Thị Minh H là 0,288 gam chất ma túy Heroine. Như vậy Trần Thị Minh H đã mua 2,022 gam Heroine với giá 1.000.000 đồng với mục đích để bán kiếm lời, đã bán cho Hoàng Bình T4 0,271 gam Heroine với giá 200.000 đồng để sử dụng; bán cho Nguyễn Văn H1 1,463 gam Heroine với giá 2.000.000 đồng mục đích của H1 là bán kiếm lời. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Thị Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Hoàng Bình T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo đều có nhân thân xấu vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình vì vậy cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị Minh H có bố đẻ, mẹ đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bị cáo Nguyễn Văn H1 có anh trai Nguyễn Thăng L2 là liệt sỹ, vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H1 có 01 tiền án về tội “Tàng trữ rái phép chất ma túy” vì vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...” do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa các bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có tài sản, thu nhập gì vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Hoàng Bình T4 là cao vì bị cáo T4 tàng trữ 0,271 gam chất ma túy Heroine, có 01 tình tiết giảm nhẹ vì vậy cần xét xử bị cáo dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Về vật chứng vụ án: Số ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định, 01 cân điện tử, 01 dao lam, 08 mảnh nilon cần tịch thu tiêu huỷ; Số tiền 2.670.000 đồng thu giữ của Trần Thị Minh H trong đó có 2.200.000 đồng là tiền bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Tạm giữ 200.000 đồng của Trần Thị Minh H cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi thu giữ của Nguyễn Văn H1 để đảm bảo thi hành án; Trả lại cho Trần Thị Minh H 270.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát: 24B2 - 079.03 thu giữ là của anh Trần Thành C, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trần Thành C; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 24K4- 0304 đã thu giữ là của anh Nguyễn Văn T6, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T6; Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy S23 Ultra thu giữ là của chị Hoàng Hà T7, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Hà T7. Việc trả lại những tài sản trên là đúng quy định pháp luật.

[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

    Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Trần Thị Minh H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 29/4/2024

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/4/2024

    Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Bình T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Hoàng Bình T4 01(Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/4/2024

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • + 0,210 (không phẩy hai trăm mười) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Bình T4 tại tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 28/4/2024.”
    • + 1,140 (một phảy một trăm bốn mươi) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn H1 tại tổ B, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 28/4/2024.”
    • + 0,224 (không phẩy ba mươi bốn) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Trần Thị Minh H tại thôn C, xã C, thành phố L ngày 28/4/2024"
    • + 01 cân điện tử, 01 dao lam, 08 mảnh nilon

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Trần Thị Minh H số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng)

    - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Trần Thị Minh H số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); Của Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số IMEI: 865835050275042/78 đã qua sử dụng

    - Trả lại cho bị cáo Trần Thị Minh H 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI:355840082719428 đã qua sử dụng kèm thẻ sim

    Tổng số tiền 2.670.000 đồng (Hai triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của Trần Thị Minh H hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.9049863 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L mở tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai.

  3. Về án phí:

    Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thị Minh H, Nguyễn Văn H1, Hoàng Bình T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, TP;
  • - Cơ quan ĐT Công an TP;
  • - Cơ quan THA HS;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo 3;
  • - T.H.A 2;
  • - Lưu

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tuyết Lanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Minh H cùng đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger