TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Ông Quàng Văn Mầng.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 26/11/1996, tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K, sinh năm 1965 và con bà Lò Thị H, sinh năm 1967; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Văn Q - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn T, sinh ngày 26/11/1996, ở bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do Lò Văn T tự giác lấy từ trong túi quần bên phải giao nộp: 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn T khai là H1 để sử dụng.
Ngày 28/3/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Lò Văn T tự giác giao nộp: 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn T khai là H1 để sử dụng, có khối lượng 0,23 gam, lấy 0,07 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 806/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu T là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,07 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,23 gam Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 28/3/2024 Lò Văn T đi bộ từ đến bản Cứp, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, tại đây Lò Văn T có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000, đồng cất giấu trong túi quần bên phải đi về, đến hồi 12 giờ 30 phút ngày 28/3/2024 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy Lò Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc mông biết tên, địa chỉ với số tiền 200.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lò Văn T.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lò Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 89/CT-VKS-ML ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn T từ 16 đến 22 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng; 0,16 gam Heroine (đều được niêm phong).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị cáo Lò Văn T thừa nhận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,23 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Lò Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.
Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng; 0,16 gam Heroine (đều được niêm phong).
Về nguồn gốc ma túy Lò Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 200.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lò Văn T, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 28/3/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng; 0,16 (không phẩy mười sáu) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 28/3/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/7/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Tòng Văn T phạm tội Tàng Trữ trái phép chất ma túy
