|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm.
Ông Lê Đăng Thiện.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân. Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên;
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST- HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Phố P, thị trấn B, huyện H, Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 14/11/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống khó khăn, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống cũng như cách nuôi dạy con cái, dẫn đến thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 đến nay, không còn quan tâm tới nhau, nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là:
- Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 10/11/2006;
- Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/7/2013;
Lâu nay hai cháu đang ở ăn ở sinh hoạt, học tập ổn định cùng chị tại thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên nguyện vọng của chị là được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Chị cũng không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Đình T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng từ chối nhận văn bản, không đến Tòa án làm việc, cũng không gửi ý kiến của cá nhân về các vấn đề của vụ án.
Tại bản ý kiến của mình, các cháu Nguyễn Thị Trang A và Nguyễn Thị Hồng N đều trình bày: Lâu nay hai chị em các cháu vẫn ở cùng nhau và cùng với mẹ, cuộc sống của các cháu rất tốt nên các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ.
Tại biên bản xác minh ngày 01/4/2024, UBND xã T, huyện T cho biết: Anh Nguyễn Đình T1 và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng của nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 14/11/2005. Hai anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 10/11/2006 và Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/7/2013;
Hiện tại anh T1 đang sinh sống tại thôn T, xã T, huyện T, còn chị T đang sinh sống tại thị trấn B, huyện H. Mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng như thế nào thì địa phương không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quy định của Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 ; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 1 điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Đình T1; Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 10/11/2006 và Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/7/2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn là anh Nguyễn Đình T1 có địa chỉ tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Đình T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1, 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[1] Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân xã X (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/11/2005, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị T cho rằng, Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống khó khăn, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống cũng như cách nuôi dạy con cái, dẫn đến thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 đến nay, không còn quan tâm tới nhau, nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1. Anh Nguyễn Đình T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được việc chị T đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh nhưng anh không đến Tòa án làm việc, cũng như không gửi ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án cho Tòa án, chứng tỏ anh không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, điều này cũng chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đình T1 là phù hợp.
[1.1] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là:
- Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 10/11/2006;
- Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/7/2013;
Xét người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì thấy rằng: Hiện tại các cháu Trang A và Hồng N có cuộc sống ổn định, sức khỏe tốt, được chăm lo học hành, chị T có công việc ổn định thu nhập hàng tháng khoảng từ 8.000.000 đ đến 10.000.000 đ, lâu nay các cháu vẫn ở ổn với chị T, nguyện vọng của các cháu cũng muốn được ở với chị T. Các cháu đều là con gái và đang ở độ tuổi phát triển cả về tâm sinh lý nên rất cần thiết phải có sự chăm sóc của người mẹ, do đó giao các cháu Trang A và Hồng N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T1 không có ý kiến gì, chị T cũng không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của chị T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[1.2] Về tài sản chung và công nợ của vợ chồng: Chị T không có yêu cầu, anh T1 không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Điểm a khoản 1 điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đình T1.
-
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Đình T1 có 02 con chung là:
- Nguyễn Thị Trang A, sinh ngày 10/11/2006;
- Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/7/2013;
Anh Nguyễn Đình T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005041 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Ngọc Công |
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sdgvsd
