|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Bản án số: 123/2024/DS-ST Ngày: 24-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sở
Bà Lê Thị Kim Uyên
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa: bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: ông Nguyễn Đình L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, bà Hứa Thị Ngọc Á, bà Lê Thị L1; Cùng địa chỉ: Số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 4092/UQ-PVB ngày 04/6/2024). (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bị đơn: ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1981
Địa chỉ: Số C, đường số F, khu đô thị L, ấp C, xã L, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (sau đây viết tắt là “Ngân hàng TMCP Đ”) do bà Lê Thị L1 đại diện trình bày: ông Nguyễn Trường G và Ngân hàng TMCP Đ đã cùng ký kết Đơn đề nghị phát hành thẻ kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế P MasterCard số 17210410277493/TTD/PVB ngày 21/04/2017 (Sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) với nội dung như sau: Hạn mức giải ngân là 30.000.000đ, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất vay 25%/năm, ngày giải ngân là 21/4/2017, tên khoản vay: thẻ tín dụng
Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Đ đã thực hiện giải ngân cho ông Nguyễn Trường G tổng số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Tuy nhiên, sau khi được Ngân hàng cho vay, ông Nguyễn Trường G đã không thực hiện trả nợ đúng quy định tại Hợp đồng. Ngày trả nợ gần nhất là ngày 21/11/2020 với số tiền thanh toán không đều và không đúng hạn. Kể từ sau ngày 21/11/2020 đến nay, ông G không thực hiện thanh toán bất kỳ khoản nào cho Ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Do đó, Ngân hàng TMCP Đ đã gửi Thông báo nợ quá hạn về địa chỉ cư trú của ông G. Đồng thời, Ngân hàng TMCP Đ đã rất nhiều lần liên hệ yêu cầu ông G thực hiện nghĩa vụ nợ, tuy nhiên ông G không thực hiện.
Tính đến ngày 24/9/2024 ông Nguyễn Trường G còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền là 115.640.815đ, trong đó nợ gốc là 23.309.945đ, nợ lãi là 92.330.870₫.
Nay Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc: ông Nguyễn Trường G phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi vay của khoản vay theo Đơn đề nghị phát hành thẻ kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế P MasterCard số 17210410277493/TTD/PVB ngày 21/04/2017 tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 115.640.815đ (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng), trong đó nợ gốc là 23.309.945₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là 92.330.870₫ (Chín mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm bảy mươi đồng), phương thức trả nợ là trả một lần. Yêu cầu ông Nguyễn Trường G tiếp tục trả lãi kể từ sau ngày 24/9/2024 cho đến khi ông Nguyễn Trường G thanh toán xong số nợ theo mức lãi suất chậm trả đã thỏa thuận trong Đơn đề nghị phát hành thẻ kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế P MasterCard số 17210410277493/TTD/PVB ngày 21/04/2017.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ngày 24/9/2024, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Đơn đề nghị phát hành thẻ kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế P MasterCard số 17210410277493/TTD/PVB ngày 21/04/2017 giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Nguyễn Trường G có chữ ký ông G và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định ông G có vay và được Ngân hàng TMCP Đ giải ngân tổng số tiền là 30.000.000đ.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng, ông G thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ đến ngày 21/11/2020 thì ngưng không thanh toán tiếp cho Ngân hàng TMCP Đ. Hiện tại ông G còn nợ lại Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 115.640.815đ (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng), trong đó nợ gốc là 23.309.945₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là 92.330.870₫ (Chín mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm bảy mươi đồng). Bị đơn ông G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông G không đến Tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ cho thấy ông G đã từ bỏ quyền chứng minh theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, ông G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã thoả thuận và vi phạm quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự. Do vậy, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu ông G phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ tạm tính đến 24/9/2024 là 115.640.815đ (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng), trong đó nợ gốc là 23.309.945₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là 92.330.870₫ (Chín mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm bảy mươi đồng), yêu cầu ông G tiếp tục thanh toán tiền lãi và phí phát sinh sau ngày 24/9/2024 là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn khởi kiện tranh chấp đối với ông Nguyễn Trường G về yêu cầu trả số nợ vay trong hợp đồng vay tài sản làm phát sinh vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Trường G có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Long An nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn ông Nguyễn Trường G đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt. Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ vay: Theo Đơn đề nghị phát hành thẻ kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế P MasterCard số 17210410277493/TTD/PVB ngày 21/04/2017 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 21 tháng 4 năm 2017, ông Nguyễn Trường G có vay Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền 30.000.000đ. Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, thời hạn vay là 36 tháng; lãi suất vay 25%/năm, tên khoản vay: thẻ tín dụng. Ngân hàng TMCP Đ đã giải ngân đầy đủ số tiền vay 30.000.000đ cho ông Nguyễn Trường G vào ngày 21/4/2017.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Trường G đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại Đơn đề nghị phát hành thẻ kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế P MasterCard số 17210410277493/TTD/PVB ngày 21/04/2017 và tại Điều khoản, điều kiện về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế tại P, nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Đến nay đã hết thời hạn tất toán khoản vay theo thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, ông G còn nợ Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 115.640.815đ (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng), trong đó nợ gốc là 23.309.945₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là 92.330.870₫ (Chín mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm bảy mươi đồng).
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định cho ông G thể hiện việc Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện nhưng ông G vắng mặt và không có ý kiến, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Đ.
Do ông G vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ là có căn cứ, buộc ông G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ nợ gốc là 23.309.945₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi tính đến ngày 24/9/2024 là 92.330.870₫ (Chín mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm bảy mươi đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 115.640.815đ (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng), theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về phương thức trả nợ: Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu ông Nguyễn Trường G trả số tiền nợ vay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
[3] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.
[4] Về án phí: Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu ông Nguyễn Trường G có nghĩa vụ trả số tiền nợ được Tòa án chấp nhận, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Hồ Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với mức thu là 5.782.040đ (Năm triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn không trăm bốn mươi đồng). Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Trường G.
Buộc ông Nguyễn Trường G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số nợ vay gốc là 23.309.945₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), tiền lãi tính đến ngày 24/9/2024 là 92.330.870₫ (Chín mươi hai triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm bảy mươi đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 115.640.815đ (Một trăm mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/9/2024 ông Nguyễn Trường G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: ông Nguyễn Trường G có nghĩa vụ chịu 5.782.040đ (Năm triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn không trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.273.478đ (Hai triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi tám đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001863 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 123/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Đại Chúng "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Trường Giang
