Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:123/2024/HS-ST

Ngày 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Đỗ Trọng Tuấn

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi ngày xét xử số 204/TB-TA ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc H, sinh năm 2000 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc T và bà Bùi Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 06/3/2024; tạm giam ngày 15/3/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 2 giờ 00 phút ngày 07/6/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố H phối hợp các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra quán Karaoke Khánh L tại Thôn B, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng do Nguyễn Thị N, sinh năm 1976, trú tại: Thôn B, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng là chủ quán.

Quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện tại phòng VIP5 đang hoạt động có dấu hiệu của việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Tiến hành xét nghiệm thử phản ứng với các chất ma túy của toàn bộ các đối tượng có mặt tại quán cho kết quả 11/12 người dương tính với các chất ma túy, trong đó có 07 đối tượng là khách và nhân viên phục vụ ở phòng VIP5 dương tính với ma túy gồm: Bùi Khắc V; Phạm Văn T1; Vũ Văn B; Lò Thị Lan A; Đoàn Thị L1; Lô Thị Tuyết N1; Lò Thị N2 dương tính với ma tuý loại MDMA và Ketamine; ngoài ra còn 04 đối tượng là nhân viên nữ của quán nhưng không phục vụ phòng hát gồm: Hoàng Thị X, sinh năm: 1999, trú tại: xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; Lô Thị Tiểu L2, sinh năm: 2002, trú tại: xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Trần Thị Á, sinh năm: 1992, trú tại: Xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; Lô Thị Cẩm L3, sinh năm: 2003, trú tại: xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An dương tính với ma tuý loại MDMA và Ketamine; chủ quán Nguyễn Thị N âm tính với các chất ma tuý.

Quá trình bắt giữ: Thu trên mặt bàn phía ngoài dãy cạnh cửa ra vào 01 đĩa sứ màu trắng bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng.

Thu trên mặt bàn phía trong dãy cạnh cửa ra vào 01 túi nilon màu trắng trong có 01 túi nilon màu trắng khác bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 vỏ túi nilon màu trắng bên trong bám dính tinh thể màu trắng, trên mặt loa 01 cuộn ống hút bằng tiền mệnh giá 20.000 đồng có bám dính tinh thể màu trắng. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng khác liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra đã làm rõ được hành vi phạm tội của các đối tượng như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 06 tháng 6 năm 2023, Bùi Khắc V cùng Phạm Văn T1, Vũ Văn B, Nguyễn Duy K và Đoàn Thị L1 cùng ăn uống tại quán ăn ở gần sân bóng thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau đó V rủ mọi người đến quán karaoke Khánh L chơi thì cả nhóm hiểu là đến quán để hát và sử dụng ma tuý. Mọi người đồng ý. K nhận sẽ đi mua ma tuý để cả nhóm sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, cả nhóm đến quán karaoke Khánh L và được chủ quán là Nguyễn Thị N sắp xếp vào phòng VIP5 bố trí 04 nhân viên nữ vào phục vụ là Lò Thị Lan A, Lò Thị N2, Lô Thị Tuyết N1, Trần Thị Á (N biết nhóm K, T1 đến quán để sử dụng ma tuý). Tại đây, K bỏ ma tuý gồm thuốc lắc và K1 lên bàn cho cả nhóm sử dụng. Sau khi cả nhóm sử dụng hết số ma túy do K mang đến, K và T1 bàn nhau mua thêm Ketamine để sử dụng. T1 bảo để T1 hỏi Lan A, nhưng sau đó K trực tiếp hỏi Lan A để mua 6.000.000 đồng tiền Ketamine. Lan A đi ra ngoài gọi điện cho Bùi Ngọc H là bạn trai của Lan A nhờ lấy hộ 6.000.000 đồng tiền Ketamine. H đồng ý và báo 6.000.000 đồng được 05 gam Ketamine. Lan Anh trở lại phòng VIP5 báo lại với K và T1 là 6.000.000 đồng được 05 gam Ketamine. K đồng ý và bảo T1 đọc số điện thoại của T1 cho Lan A. Lan Anh nhắn tin số điện thoại của T1 cho H. Sau đó, H gọi điện thoại cho T1 và nhắn số tài khoản để T1 chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản ngân hàng cho H. Truyền đọc số tài khoản trên cho K để K gửi 6.000.000 đồng vào tài khoản của H. Chuyển tiền mua ma tuý xong, Lan A đã chụp lại màn hình điện thoại của K và gửi cho H để xác nhận. Một lúc sau, H gọi điện cho T1 bảo ra cửa quán K2 để nhận ma túy, T1 ra nhận của H một túi nilon bên trong có 05 túi nhỏ chứa Ketamine. T1 cầm túi Ketamine quay lại phòng VIP5, cả nhóm tiếp tục sử dụng ma tuý đến khoảng 2 giờ sáng ngày 07/6/2023 thì cơ quan Công an vào kiểm tra, bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 476/KL-KTHS (MT) ngày 13/6/2023 của Phòng K3 Công an thành phố H kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt bàn phía ngoài dãy cạnh cửa ra vào qua giám định là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,16 gam;

+ Chất tinh thể màu trắng thu trên mặt bàn phía trong dãy cạnh cửa ra trong 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,69 gam;

+ Tinh thể bám dính trong ống cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng là ma tuý loại Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng.

Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng khác liên quan đến vụ án.

Tại bản án số 53/2024/HS-ST ngày 14/3/2024, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tuyên phạt Phạm Văn T1, Bùi Khắc V 09 năm tù; Vũ Văn B, Lò Thị Lan A 08 năm 06 tháng tù cùng về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; tuyên phạt Nguyễn Thị N 07 năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Bùi Ngọc H bị khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Nguyễn Duy K bị khởi tố về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. K và H đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và Tạm đình chỉ điều tra bị can.

Ngày 06/3/2024, Bùi Ngọc H đến Cơ quan Công an quận L, thành phố Hải Phòng đầu thú, quá trình điều tra xét hỏi Bùi Ngọc H khai nhận: Do không có công việc ổn định và thường xuyên sử dụng ma tuý nên H đã nảy sinh ý định mua ma tuý về cất giữ vừa để sử dụng vừa bán kiếm lời. Trước ngày Lò Thị Lan A (là bạn gái của H) bị cơ quan Công an bắt quả tang khoảng 10 ngày, H một mình ra khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một nam giới không quen biết 07 gam Ketamine được đựng trong 07 túi nilon nhỏ với giá 1.000.000 đồng/01 túi. Mua được ma tuý, H mang về nơi ở tại tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng cất giữ và tự sử dụng hết 02 túi Ketamine. Đến khoảng hơn 23 giờ ngày 06/6/2023, khi H đang ở nhà thì Lan A gọi điện nhờ H lấy hộ 05 gam Ketamine cho bạn của Lan A tại quán K2, H đồng ý và báo giá 1.200.000 đồng/01 gam hết tổng số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó Lan A nhắn tin số điện thoại của người mua ma tuý (Phạm Văn T1) cho H. H gọi điện cho T1 báo 05 gam Ketamine giá 6.000.000 đồng và yêu cầu T1 chuyển khoản trước tiền mua ma tuý cho H. T1 đồng ý, H nhắn tin số tài khoản ngân hàng của H cho T1. Một lúc sau Lan A gửi ảnh chụp xác nhận đã chuyển khoản số tiền 6.000.000 đồng cho H. Sau đó H lấy 05 túi Ketamine mang đến khu vực gần cửa quán karaoke Khánh L và gọi điện cho T1 ra nhận ma tuý. Sau khi giao 05 túi Ketamine cho T1 thì H về nhà, đến sáng ngày 07/6/2023 H biết nhóm của T1, Lan A bị cơ quan Công an bắt giữ về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã bỏ trốn khỏi địa phương. H khai đây là lần đầu tiên H bán trái phép ma tuý để kiếm lời, trong việc mua bán ma tuý trên thì Lan A không được hưởng lợi gì.

Lời khai của Bùi Ngọc H phù hợp với lời khai của Phạm Văn T1, Lò Thị Lan A phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với báo cáo bắt giữ, phù hợp với vật chứng thu giữ và kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Đối với nam giới bán ma túy cho H tại đường tàu Cầu Quay quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với các đối tượng liên quan đã được xử lý trong vụ án Bùi Khắc V, Nguyễn Thị N cùng đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bản Cáo trạng số 117/CT-VKS-P1, ngày 24/5/2024 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Bùi Ngọc H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa bị cáo khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và khai bị cáo mua ma tuý với giá 1.000.000 đồng/01gam và bán lại cho T1 với giá 1.200.000 đồng/ 01 gam, H bán cho T1 05 gam và được lãi số tiền 1.000.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Bùi Ngọc H và đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Ngọc H mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04( Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 (năm) đến 10.000.000( mười) triệu đồng nộp Ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 1.000.000 (một) triệu đồng thu lợi bất chính do bán ma tuý cho T1.

Vật chứng của vụ án đã được xử lý tại vụ án Bùi Khắc V, Nguyễn Thị N cùng đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
    • Về tội danh:
  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Phạm Văn T1 và Lò Thị Lan A tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng hơn 23 giờ ngày 06 tháng 6 năm 2023 Bùi Ngọc H đã có hành vi bán trái phép 05 gam ma túy là loại Ketamine cho Phạm Văn T1 với giá 6.000.000 (S) triệu đồng để hưởng lợi bất chính nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  3. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi này bị cáo biết rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội và là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm khác nhưng vì vụ lợi H đã bất chấp pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời. Mặc dù không đủ căn cứ để xử lý hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân của H nhưng qua đó cho thấy bị cáo cũng là người nghiện chất ma tuý, hơn ai hết bị cáo hiểu được tác hại của ma tuý gây ra cho sức khoẻ của con người nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi cất giữ trái phép ma tuý để bán lại cho người khác, qua đó cho thấy bị cáo có quyết tâm phạm tội cao. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
    • Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn nhưng sau đó đã ra đầu thú tại cơ quan Công an nên Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Bùi Ngọc H phải chịu hình phạt bổ sung nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
  7. Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng của vụ án đã được xử lý tại bản án số 53/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  8. Đối với số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng bị cáo thu lợi từ việc bán bán trái phép chất ma tuý cho T1, xét đây là tiền do phạm tội mà có nên nên căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải nộp lại thu Ngân sách nhà nước.
  9. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

    Xử phạt: Bùi Ngọc H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 3 năm 2024.

    Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

    Về thu lợi bất chính: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự bị cáo Bùi Ngọc H phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) sung Ngân sách nhà nước.

    Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Bùi Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

    Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - UBND xã Minh Đức, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger