Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 24-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường S, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Vũ Thị L; có vợ là Nông Thị B (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: 01 tại Bản án hình sự số 22/2006/HS-ST ngày 04/4/2006, Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/4/2014 Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ xử lý vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép và Trực tiếp xâm hại hoặc thuê người xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác (đã được xóa); bị tạm giữ ngày 18/02/2024; tạm giam ngày 23/02/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, Công an phường H, quận L làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường, phát hiện Nguyễn Trường S đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15G1-132.29 tại khu vực đầu ngõ C T, phường H, quận L, Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe, kiểm tra phát hiện tại túi áo khoác bên trái S đang mặc có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa cục chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine. Ngoài ra, còn thu giữ của S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát: 15G1-132.29. Sau đó, tổ công tác đã đưa S cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 170/KL- KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng bên trong gói giấy màu trắng thu giữ của Nguyễn Trường S là ma túy, có khối lượng: 0,16 gam là loại Heroine .

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trường S khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 18/02/2024, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát: 15G1-132.29 đi từ nhà tại phường V, quận K đến khu vực ngõ C T, phường H, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma túy sử dụng. S đi sâu vào ngõ C Tô Hiệu khoảng 100m thì gặp và thỏa thuận mua 100.000 đồng ma túy với 01 nam giới mặc quần áo tối màu, đội mũ và đeo khẩu trang. S đưa cho nam giới 100.000 đồng và đứng đợi. Nam giới nhận tiền rồi đi vào sâu trong ngõ. Một lúc sau, nam giới quay lại đưa cho S 01 gói giấy màu trắng. S biết đây là ma tuý cần mua nên nhận và cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Sau đó, S điều khiển xe mô tô ra tới khu vực đầu ngõ C T, phường H, quận L, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Đối với người bán ma túy, Nguyễn Trường S khai không biết lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát: 15G1-132.29, kết quả điều tra, xác định thuộc quyền sỡ hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn S1, sinh năm:1953; nơi thường trú: Đẩu P, phường V, quận K, Hải Phòng. Khi cho Nguyễn Trường S mượn xe, ông S1 không biết S sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn S1.

Tại bản Cáo trạng số 137/CT-VKSLC ngày 05/6/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, tại khu vực đầu ngõ C T, phường H, quận L, Hải Phòng, Nguyễn Trường S bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam ma túy là loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án tại Bản án hình sự số 22/2006/HS-ST ngày 04/4/2006, Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong phần án phí nhưng chưa bồi thường dân sự cho bị hại trong vụ án nên chưa được xóa án tích, lần phạm tội này do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân có 01 tiền án chưa được xóa án tích, đã từng bị xử lý vi phạm hành chính và với lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  7. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  8. Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định. Xét thấy, số vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
  9. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 02 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 170MT/PC09.

(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 05/06/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp dụng Điều 135; điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Trường S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Song Hải

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Song Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường Sơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger