Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hà và ông Nguyễn Thế Khải.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trinh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Văn C

Trương Văn C, sinh ngày 02/02/1975, tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP ĐL, thị trấn DD, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quang Th (đã chết) và bà Hoàng Thị Ph; vợ: Nguyễn Thị T; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

  • + Ngày 18/11/2010, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định số 1706/QĐ-CT về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào Trung tâm cai nghiện đối với Trương Văn C thời hạn 20 tháng. Ngày 10/7/2012, C chấp hành xong.
  • + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2014/HSST ngày 31/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trương Văn C 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ, buộc C phải bồi thường cho anh Vũ Anh Tuấn số tiền 315.000đ. Ngày 15/3/2015, C chấp hành xong án phạt tù, ra trại. Ngày 19/5/2014, C chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 05/8/2014, C thực hiện xong trách nhiệm bồi thường dân sự. Đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Vĩnh Yên, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Trương Văn C, sinh năm 1975, hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Đồng Lính, thị trấn DD, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy, loại Heroine nên C một mình bắt xe bus đến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực bến xe bus Vòng xuyến HC thuộc phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, C xuống xe rồi một mình đi bộ đến khu vực Gốc Vừng thuộc phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên. Tại đây, C gặp 01 người nam giới theo C khai khoảng 40 tuổi, dáng giống người nghiện đang đứng trên vỉa hè. Qua nói chuyện, C hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, C cầm gói ma túy đó ở lòng bàn tay phải rồi tiếp tục đi bộ đi tìm nơi sử dụng, còn người nam giới đã bán ma túy cho C đi đâu không rõ. Khi C đi đến đường Nguyễn Viết Tú thuộc phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Vĩnh Yên phối hợp với Công an phường Định Trung kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của C 01 gói giấy bạc nhỏ, bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng, C khai nhận đây là gói ma túy Heroine C vừa mua được nhưng chưa kịp sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong gói giấy bạc bên trong chứa chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của C vào phong bì thư ký hiệu A1 và đưa C cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận giám định số 1739/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

“Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có khối lượng 0,2099g (Không phảy hai không chín chín gam, không kể bao bì);

Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1=0,1605 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1608/2024” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc”.

Tại Cáo trạng số: 130/CT-VKSND.TPVY ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Trương Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Trương Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 0,1605 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1608/2024".

Bị cáo C không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn C tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ để kết luận. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Vĩnh Yên phối hợp với Công an phường Định Trung làm nhiệm vụ tại khu vực đường Nguyễn Viết Tú, phường Định Trung, thành phố Vĩnh Yên đã phát hiện Trương Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của C 01 gói giấy bên trong chứa 0,2099gam chất cục bột màu trắng, qua giám định xác định là ma túy, loại Heroine. C khai nhận mục đích mua số ma túy trên để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng.

Hành vi của Trương Văn C đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói C. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa C.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy :

Bị cáo C phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năn 2017), có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài ra bị cáo có bố vợ là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo C có nhân thân xấu, cụ thể năm 2010 bị Chủ tịch UBND huyện Tam Đảo ra quyết định đưa C đi nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng. Năm 2014 bị Toà án nhân dân huyện Tam Đảo xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đều đã chấp hành xong về hình phạt và án phí. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nếu để cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục nói C, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo C là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với người bán ma tuý cho C, Cơ quan điều tra không xác định chính xác về đối tượng đã bán ma tuý cho C ngày 11/6/2024. Do vậy, kiến nghị Cơ quan điều tra, Công an thành phố Vĩnh Yên tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[6] Về vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm A1= 0,1605 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1608/2024” không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trương Văn C 01 (một) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/6/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm A1 = 0,1605 gam tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ1608/2024".

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Vĩnh Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Văn C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Chung tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger