Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 23/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải, ông Đỗ Đức Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2024/TLST-HS ngày 03/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 10/04/2024 đối với:

1. Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; CCCD: [...]; Nơi đăng ký HKTT: Thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Vợ con: Chưa có.

Tiền án: Tại bản án số 62/2005/HS-ST ngày 20/09/2005 của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 14 tháng tù, án phí 50.000 đồng tiền án phí HSST và 355.000 đồng tiền án phí DSST về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 25/9/2006. Chấp hành xong án phí sơ thẩm ngày 14/02/2017.

Tại bản án số 06/2007/HS-ST ngày 19/11/2007 của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại bản án số 17/2007/HS-ST ngày 30/11/2007 của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hai bản án hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 08 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 22/09/2010. Chấp hành xong án phí ngày 14/02/2017.

Tại bản án số 74/2013/HSST ngày 25/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 25/9/2015.

Tại Bản án số 77/2017/HSST ngày 27/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt H 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 136 và 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138. Tổng hợp hình phạt cho 2 bản án của H là 84 tháng. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 14/01/2023.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ông Vũ Văn S, sinh năm 1967; Địa chỉ: N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt

3.2 Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt

3.3 Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 15/12/2023, tại khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A53 màu đen của bà Nguyễn Thị H3 và 15.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V của bà H3. Ngày 21/12/2023, Nguyễn Văn H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Thu giữ của bị cáo 01 tờ tiền ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng, 01 xe Yamaha NoVo màu đỏ - đen biển số 99Y2-2449, đăng ký xe số 006075, 01 quần dài màu trắng, 01 áo sơ mi màu đen, 01 áo khoác màu xám xanh, 01 túi xách có dây màu đen, 01 đôi giầy màu trắng xám, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.

Thu giữ của ông Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu đen.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: “01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A53 màu đen, kiểu máy CPH212227, Ram 4GB, bộ nhớ 128 GB, mua mới và sử dụng từ năm 2020, có giá trị là 1.000.000 đồng”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 50/CT-VKSTS ngày 03/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2023, sau khi tan làm bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha NoVo màu đỏ - đen, biển số 99Y2-2449 đi từ khu công nghiệp T đến khu vực khu phố N, phường T, thành phố T xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo đi đến cổng nhà bà Vũ Thị H2 nhìn thấy có 01 chiếc điện thoại Oppo A53 để trên mặt bàn nhựa trên đường trước cổng nhà bà H2, xung quanh không có người trông giữ nên đã lấy điện thoại đút vào túi quần. Về đến nhà, H kiểm tra điện thoại không cài mật khẩu và phần sau ốp có một tờ giấy trắng có ghi “Hoa201074” nên đã đăng nhập vào ứng dụng Ngân hàng V trên điện thoại kiểm tra thấy số dư là 16.570.737 đồng. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, H đến cửa hàng tạp hóa của ông Vũ Văn S để chuyển tiền từ tài khoản và nhận được 14.900.000 đồng tiền mặt. Khi chuyển ông S không biết đó là tiền H trộm cắp và bị cáo đã trả cho ông S 100.000 đồng phí chuyển tiền. H tháo và vứt sim điện thoại, sau đó bán chiếc điện thoại cho ông Nguyễn Văn T là chủ cửa hàng mua bán điện thoại “Tuấn H4” được số tiền là 500.000 đồng. Bị cáo đã chi tiêu còn lại số tiền 100.000 đồng và đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bị hại là bà Vũ Thị H2 đã nhận lại chiếc điện thoại bị mất và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà số tiền 15.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Văn S đã nhận chuyển tiền từ tài khoản trên điện thoại của bị cáo H để nhận tiền mặt với số tiền 15.000.000 đồng. Khi chuyển tiền, ông S không biết và H không nói cho ông biết đó là tiền trộm cắp và trả phí cho ông 100.000 đồng.

Ông Nguyễn Văn T đã mua chiếc điện thoại Oppo A53 của bị cáo H với giá 500.000 đồng. Khi mua điện thoại, ông không biết và bị cáo không nói đó là điện thoại trộm cắp. Do màn hình điện thoại bị hỏng nên ông đã thay mới với số tiền là 500.000 đồng. Ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã mua điện thoại và tiền thay màn hình điện thoại.

Bà Nguyễn Thị L đã mua chiếc xe mô tô Yamaha NoVo, biển kiểm soát 99Y2-2449 để làm phương tiện đi lại. Sáng ngày 15/12/2023 bị cáo H là con trai của bà đã mượn xe đi làm. Bà không biết và bị cáo cũng không nói cho bà biết việc dùng chiếc xe đi trộm cắp. Chiếc xe này bà mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Bà xác định đây là tài sản hợp pháp của mình nên đề nghị được xin lại chiếc xe làm phương tiện đi lại.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà H2 số tiền 14.800.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bà H2 số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo.

Truy thu của ông S 100.000 đồng trả lại cho bà H2.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 xe Yamaha NoVo màu đỏ - đen biển số 99Y2-2449, đăng ký xe số 006075.

Tịch thu và tiêu hủy 01 quần dài màu trắng, 01 áo sơ mi màu đen, 01 áo khoác màu xám xanh, 01 túi xách có dây màu đen, 01 đôi giầy màu trắng xám, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn về tội danh, điều luật được áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản người phạm tội đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 15/12/2023, tại khu phố N, phường T, thành phố T, Nguyễn Văn H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu đen có trị giá 1.000.000 đồng và 15.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của bà Nguyễn Thị H3. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 16.000.000 đồng nhưng do bị cáo đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản với tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử 05 lần về tội “Trộm cắp tài sản” và “cướp giật tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đã bị áp dụng tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS nên không bị áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Bị hại là bà Vũ Thị H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường 15.000.000 đồng là tiền bị cáo chiếm đoạt trong tài khoản ngân hàng của bà H2. Xét thấy yêu cầu này của bà H2 là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H là tiền bị cáo chiếm đoạt của bà H2 nên trả lại cho bà H2.

Số tiền 100.000 đồng ông S được hưởng từ dịch vụ chuyển tiền là tiền trong tài khoản của bà H2 nên truy thu trả lại cho bà H2.

Vì vậy, bị cáo H phải bồi thường cho bà H2 số tiền 14.800.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền mua điện thoại là 500.000 đồng và 500.000 đồng tiền thay màn hình điện thoại. Xét thấy đây là sự tự nguyện của anh T và phù hợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

01 xe Yamaha NoVo màu đỏ - đen biển số 99Y2-2449, đăng ký xe số 006075 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị L. Mặc dù giấy đăng ký xe mang tên ông Nguyễn Đình Q, ông Q đã chuyển nhượng cho bà L nhưng bà L chưa làm thủ tục sang tên bà L. Bà L cho bị cáo H mượn xe nhưng bị cáo không nói cho bà biết việc trộm cắp tài sản, bà đề nghị được nhận lại chiếc xe này. Xét thấy yêu cầu của bà L là có có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, trả lại cho bà L 01 xe Yamaha NoVo màu đỏ - đen.

01 quần dài màu trắng, 01 áo sơ mi màu đen, 01 áo khoác màu xám xanh, 01 túi xách có dây màu đen, 01 đôi giầy màu trắng xám, 01 mũ bảo hiểm màu xanh không có giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 500.000 đồng bị cáo H đã bán điện thoại trộm cắp cho ông T, do ông T không yêu cầu bồi thường nên truy thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Vũ Thị H2 số tiền 14.800.000 đồng.

Trả cho bà Vũ Thị H2 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H.

Truy thu của ông Vũ Văn S 100.000 đồng trả cho bà Vũ Thị H2.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị L 01 xe Yamaha NoVo màu đỏ - đen biển số 99Y2-2449, đăng ký xe số 006075.

Tịch thu và tiêu hủy 01 quần dài màu trắng, 01 áo sơ mi màu đen, 01 áo khoác màu xám xanh, 01 túi xách có dây màu đen, 01 đôi giầy màu trắng xám, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.

Truy thu của bị cáo H 500.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 740.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger