TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày 22 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 126/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với:
Giàng A P, sinh năm: 1959 tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A D và bà Tráng Thị D1 (đều đã chết), có vợ là Giàng Thị N (tên gọi khác: Hạng Thị N1), có 07 con; tiền án: Tại Bản án số 194/2008/HSST ngày 22/5/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt là 15 năm 06 tháng tù (Chưa được xoá án tích); tiền sự: Tại Quyết định số 83/QĐ-TA ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (Chưa được xóa tiền sự); nhân thân: Tại Bản án số 74/HSPT ngày 22/3/2002 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Giàng A P nghiện chất ma tuý. Khoảng 10 giờ ngày 29/01/2024, Giàng A P đi bộ trên đường dân sinh thuộc tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, Giàng A P đang đi trên đường thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 02 viên hồng phiến (Methamphetamine) gói bằng mảnh giấy bạc với giá 50.000 đồng. Páo cất gói ma tuý vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà thì bị tổ công tác Công an thị trấn N, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Giàng A P: 01 gói mảnh giấy bạc bên trong có 02 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine.
Ngày 29/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định 02 viên nén màu hồng thu giữ của Giàng A P có khối lượng 0,2 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu P.
Tại Kết luận giám định số 476/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,20 gam; Loại Methamphetamine”.
Cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Giàng A P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A P trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A P từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy bạc và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A P.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do là người cao tuổi.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Giàng A P nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an thị trấn N, huyện M thu giữ vào ngày 29/01/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 50.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an thị trấn N, huyện M lập vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 29/01/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Giàng A P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 29/01/2024 bị cáo Giàng A P đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,20 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án số 194/2008/HSST ngày 22/5/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt là 15 năm 06 tháng tù, bị cáo chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, bị cáo bị áp dụng một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Vì vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, bị cáo có 02 tiền án đều về tội phạm ma túy (một tiền án đã được xóa, một tiền án chưa được xóa), có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy bạc và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A P. Xét thấy đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo Giàng A P có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo Giàng A P là người cao tuổi (trên 60 tuổi) theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009. Vì vậy, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A P theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Giàng A P, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng ra quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Giàng A P 03 (Ba) năm tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 29/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy bạc và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Giàng A P.
3. Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Giàng A P.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/5/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 29/01/2024 bị cáo Giàng A P đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,20 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
