TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HSST
Ngày: 21-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Công Nhân;
- Ông Nguyễn Đình Rành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-HS ngày 05/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trần Hoài V (tên gọi khác: không); giới tính: N; sinh năm 1998 tại Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G (nay là khu phố G), xã L (nay là phường L), thị xã G (nay là thành phố G), tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: số C 1 P, phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; là con ông Nguyễn Trần P và bà Bạch Thị Kim N1; bị cáo có vợ là Trần Thị Mỹ L; tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 16/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Thanh H, sinh năm: 1994; địa chỉ: Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tinh A; tạm trú: số H đường số H, KDC T, ấp D, xã B, huyện B, Tp .;
- Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1988; địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số G, cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 00 giờ 30 ngày 16/11/2023, Tổ tuần tra 363 Quận G tuần tra đến giao lộ đường H và đường số B phường T, Quận G thấy Phạm Thanh H điều khiển xe AirBlade, biển số: 59S2-480.26 chạy G1 chở Nguyễn Trần Hoài V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trần Hoài V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của V có 01 gói nylong chứa 04 viên nén màu trắng, là ma túy.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, V khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 ngày 16/11/2023, V sử dụng mạng zalo tên “Nguyễn Vương” của mình liên lạc với N2 qua zalo “N2” (bạn ngoài xã hội) đặt mua 05 viên thuốc lắc với giá mỗi viên là 300.000 đồng. Sau đó, N2 đặt G đem ma túy giao cho V tại địa chỉ D đường số A Khu dân cư B, huyện B. Vương trả tiền ma túy cho N2 bằng hình thức chuyển khoản, số tài khoản 100874529341 Ngân hàng Thương mại cổ phần C, tên Nguyen Van N3 với số tiền 1.600.000 đồng (Trong đó có 100.000đ tiền G1). Sau khi mua ma túy, V đi đến khách sạn “Venice” thuộc khu dân cư T huyện B sử dụng 1 viên, còn 04 viên ma túy cất giấu trong túi quần. Đến 00 giờ ngày 16/11/2023, V xuống trước khách sạn thấy ông Phạm Thanh H hành nghề chạy xe G1, nên đặt xe đi đến số I S, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (là chỗ làm của V). Khi H điều khiển xe AirBlade, biển số: 59S2-480.26 chở V đến giao lộ đường H và đường số B phường T, Quận G thì bị Tổ tuần tra 363 Quận G bắt quả tang.
Kết quả giám định số 12946/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 04 viên nén màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,5142 g (một phẩy năm một bốn hai gam) loại MDMA.
Tiến hành xét nghiệm ma túy trong cơ thể Nguyễn Trần Hoài V kết quả dương tính với ma túy.
Kết quả xác minh tại Ngân hàng thương mại cổ phần C, số tài khoản 100874529341 do Nguyễn Văn N2 (sinh năm 1988, nơi thường trú Ấp I, Trinh P1, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Nhà số G, cư xá Đ, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) là chủ sở hữu (Bút lục 123-129).
Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Nguyễn Trần Hoài V và hình dấu của Công an phường T, Quận G bên trong có 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu trắng là ma túy loại MDMA.
- + 01 (một) điện thoại hiệu Samsung GalaxyA33 màu đen số Imei (khe 1): 351464692624729, số I (khe 2) 353439742624722.
Bản cáo trạng số 121/CT-VKS-Q7 ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố Nguyễn Trần Hoài V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Trần Hoài V có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hoài V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trần Hoài V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì, bị cáo biết lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 00 giờ 30 ngày 16/11/2023, bị cáo đang đi cùng xe với Phạm Thanh H tại góc đường H và đường số B, phường T, Quận G thì bị tổ tuần tra 363 Công an Quận 7 kiểm tra bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần, phía trước bên trái của bị cáo một gói nylon chứa 04 viên nén màu trắng, là ma túy. Theo Kết luận giám định số 12946/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 04 viên nén màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,5142 gam (một phẩy năm một bốn hai gam), loại MDMA. Nên hành vi của bị cáo Nguyễn Trần Hoài V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 là đúng người đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta về chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác. Nên Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý nghiêm minh, có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng, xét bị cáo từ suốt quá trình điều tra đến phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Nguyễn Trần Hoài V và hình dấu của Công an phường T, Quận G bên trong có 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu trắng (còn lại sau giám định) là ma túy loại MDMA. Là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 (một) điện thoại hiệu Samsung GalaxyA3 màu đen số Imei (khe 1): 351494692624729, số I (khe 2) 353439742624722 là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên tịch thu sung quỹ Ngân sách nhà nước.
[6] Đối với Nguyễn Văn N2, là người bán ma túy cho V, qua xác minh thực tế không ở nơi thường trú, nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
[7] Đối với ông Phạm Thanh H là tài xế chạy xe ôm, ngày 16/11/2023 chở bị cáo V lưu thông trên đường H, khi đến giao lộ đường H và đường số B phường T, Quận G, thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang bị can V tàng trữ trái phép chất ma túy. Ông H không biết V tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Hoài V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hoài V 01 (một) năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Nguyễn Trần Hoài V và hình dấu của Công an phường T, Quận G bên trong có 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu trắng (còn lại sau giám định) là ma túy loại MDMA.
- Tịch thu sung quỹ Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu Samsung GalaxyA3 màu đen số Imei (khe 1): 351494692624729, số I (khe 2) 353439742624722.
(Theo Biên bản V/v giao, nhận vật chứng tài sản số 117 ngày 26/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 123/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 123/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trần Hoài V- tttpcmt
