Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/HSST

Ngày: 13-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Kim Lý.
  2. Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HS ngày 29/5/2025, đối với các bị cáo:

  1. Lê Long H, sinh năm 2001 tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Thanh T, sinh năm 1978 và bà Dương Thị B, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; ngày 26/9/2024, bị cáo bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

  2. Lê Anh T1, sinh năm 1999 tại tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1966 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; ngày 26/9/2024, bị cáo bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Anh Lâm Chí H2, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Ấp M, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Long H, Lê Anh T1 và anh Lâm Chí H2 cùng làm chung công nhân tại Công ty L thuộc khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Khoảng 13 giờ ngày 26/04/2024, trong lúc nghỉ trưa tại Công ty thì H xảy ra mâu thuẫn với H2 nên H rủ T1 sau khi tan ca làm về sẽ chặn đường đánh anh H2, T1 đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 83C1-258.78 chở T1 đi đến khu vực cầu Q thuộc khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương chở H2 đi làm về để đánh H2. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H và T1 nhìn thấy H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số 61E1-694.84 đi qua cầu Q, trên tay H2 đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax nghe điện thoại nên H điều khiển xe mô tô biển số 83C1-258.78 đi theo phía sau xe của H2. Đến đoạn đường đường DT749A thuộc khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, H điều khiển xe mô tô biển số 83C1-258.78 chạy song song với xe mô tô biển số 61E1-694.84 còn T1 ngồi sau dùng chân đạp vào thân xe mô tô biển số 61E1-694.84 làm anh H2 té ngã xuống đường, anh H2 đánh rơi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax đang cầm trên tay xuống mặt đường làm hư hỏng xe mô tô biển số 61E1-694.84 và điện thoại. Lúc này, H dừng xe trên đường và cùng T1 đuổi anh H2 chạy qua phần đường phía đối diện, anh H2 vừa chạy vừa truy hô “Cướp”. T1 cầm theo mũ bảo hiểm đuổi theo để đánh H2 nhưng không trúng. Cùng lúc này, trên phần đường cùng chiều có nhiều phương tiện xe mô tô đi qua thấy T1 và H đang đuổi đánh anh H2 nên dừng xe lại không đi qua. Trong lúc đuổi theo anh H2, Hồ nhặt 01 cục đá trên lề đường ném về phía anh H2 nhưng không trúng. Anh H2 bỏ chạy khoảng 100 mét thì thấy tiệm Mèo Nail của chị Nguyễn Thúy P, sinh năm 2000; địa chỉ thường trú: Ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương đang mở cửa nên chạy vào phía trong trốn. Sau đó, H và T1 không đuổi theo nữa mà quay lại lấy xe mô tô biển số 83C1-258.78 và rời khỏi hiện trường. Khi thấy H và T1 đi về thì H2 ra lấy xe và điện thoại rồi đi về nhà. Sau khi sự việc xảy ra, H2 không đi đến cở sở y tế điều trị và trình báo sự việc. Đến ngày 20/5/2024, H2 đến Công an phường M trình báo vụ việc, Công an phường M tiếp nhận và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương thụ lý theo thẩm quyền.

Theo Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 393/2024/KLGĐ-TTPY ngày 01/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận: Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Lâm Chí H2 tại thời điểm giám định là 00%. Theo Kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

Về chi phí sửa chữa, thay thế những hư hỏng của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125, biển số 61E1-694.84, màu xám đen, số máy JFV1E1866384, số khung MH1JFV112JK857315, đã qua sử dụng trị giá 5.100.000 đồng và chi phí sửa chữa, thay thế những hư hỏng của 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax, màu xám đen, đã qua sử dụng trị giá 10.060.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 122/CT- VKSBC ngày 28/4/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Long H từ 08 (tám) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Anh T1 từ 08 (tám) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Long H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Lê Anh T1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của kiểm sát viên.

Lời sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời, sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án, do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, tại khu vực đường D thuộc khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Long H điều khiển xe mô tô biển số 83C1-258.78 chở bị cáo Lê Anh T1 chạy áp sát xe mô tô biển số 61E1-694.84 do anh Lâm Chí H2 điều khiển. Bị cáo T1 dùng chân đạp vào thân xe mô tô biển số 61E1-694.84 làm anh H2 té ngã xuống đường gây hư hỏng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 61E1-694.84 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, tổng chi phí sửa chữa, thay thế trị giá 15.160.000 đồng. Sau đó, Bị cáo H và bị cáo T1 có hành vi dùng mũ bảo hiểm và đá đuổi đánh anh H2 chạy trên đường đồng thời la hét ở nơi tập trung đông người, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây hoang mang, lo sợ, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, gây mất an tinh trật tự tại địa phương. Do vậy, hành vi các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[3.1] Về tính chất: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hành vi gây rối tại nơi công cộng làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho trong nhân dân là trái pháp luật, biết hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo thật nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Đây là

các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tính chất đồng phạm: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và làm hư hỏng tài sản của bị hại, không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ với nhau nên không xem là phạm tội có tổ chức, vai trò và hành vi thực hiện tội phạm Hội động xét xử xác định đối với các bị cáo là ngang nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian đủ dài để các bị cáo có thời gian học tập, tập trung cải tạo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 15.160.000 đồng cho bị hại Lâm Chí H2. Số tiền này bị cáo H và T1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên lai thu tiền số 0000073 ngày 21/5/2025. Bị hại Lâm Chí H2 được quyền liên hệ với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát để yêu cầu nhận số tiền bồi thường 15.160.000 đồng.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Long H và bị cáo Lê Anh T1 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Lê Long H 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Long H 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Lê Long H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Lê Anh T1 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Anh T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Lê Anh T1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Căn cứ khoản 4 Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 có trách nhiệm liên đới bồi thường 15.160.000 đồng (mười lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bị hại Lâm Chí H2 và được khấu trừ vào số tiền 15.160.000 đồng (mười lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) mà các bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000073 ngày 21/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Long H và Lê Anh T1 có trách nhiệm liên đới chịu số tiền 758.000 đồng (bảy trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hồ Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/HSST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 123/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Long H và đồng phạm phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger