Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số:123/2025/HS-ST

Ngày: 16/04/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Cát và ông Nguyễn Cảnh Thảo

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký TAND TP . Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 04 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2025/HSST ngày 04 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Thị Mai T; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1987 tại TP , tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: khối I, phường N, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Xuân H và bà Đặng Thị T1; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng: Nguyễn Duy K - sinh năm 1987; có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 10/01/2025 được tại ngoại tại địa phương, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị T2; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1974 tại TP , tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: khối A, phường N, TP ., tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); A, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Bùi Đình H2 – sinh năm 1969; có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 10/01/2025 được tại ngoại tại địa phương, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 07/01/2025, Nguyễn Thị T2 và Võ Thị Mai T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đầu thú và khai nhận hành vi đánh “Đánh bạc” bằng hình thức sô lô, số đề của mình như sau: Nguyễn Thị T2 và Võ Thị Mai T có mối quan hệ quen biết, bạn bè và mua bán số đề với nhau. Nguyễn Thị T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, đăng nhập vào ứng dụng telegram có tên là “Nguyễn Thị Hoài T2” được đăng ký bằng số điện thoại “0976.286.xxx” để nhắn tin đánh bạc với Võ Thị Mai T. Võ Thị Mai T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50, màu đen, đăng nhập vào ứng dụng telegram có tên là “Sangyo” được đăng ký bằng số điện thoại “0784.310.xxx” nhận tin nhắn đánh số lô, đề của T2.

Hình thức đánh bạc và số tiền thắng thua các bị cáo thỏa thuận khi tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề, dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc trong ngày. Cụ thể như sau:

- Đánh số đề: Người đánh tự chọn một hoặc nhiều số tự nhiên gồm 2 chữ số, đánh với một số tiền nhất định. Số đề trúng thưởng là số trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả Xổ số Miền Bắc, nếu trúng số đề thì được nhận số tiền gấp 70 lần số tiền đánh.

- Đánh số lô: Người đánh tự chọn một hoặc nhiều số tự nhiên gồm 02 chữ số, mua theo số điểm. Số lô trúng thưởng là số trùng với 02 số cuối tất cả các giải của kết quả Xổ số Miền Bắc, giá 01 điểm lô 21.800 đồng, nếu trúng thưởng được nhận 80.000 đồng/điểm lô. Nếu kết quả xổ số có số lô đó xuất hiện bao nhiêu lần thì số tiền trúng thưởng được nhân lên số lần tương ứng.

- Đánh lô xiên: Người đánh một dãy số gồm nhiều số lô: Xiên 2 là dãy số có 2 số lô, xiên 3 có 3 số lô. Nếu kết quả xổ số Miền Bắc ngày đó có tất cả các số lô trong dãy số người mua chọn thì trúng thưởng. Lô xiên được tính theo điểm, mỗi điểm lô xiên tương ứng với số tiền 10.000 đồng. Lô xiên 2 trúng 1 điểm được trả thưởng 100.000 đồng, lô xiên 3 trúng 1 điểm được trả thưởng 400.000 đồng.

Từ 17 giờ 41 phút đến 18 giờ 02 phút ngày 07/01/2025, T2 gửi cho T 03 tin nhắn đánh số lô, số đề, số lô xiên, cụ thể:

- 190 điểm số lô gồm: Số 89 đánh 150 điểm; số 72 đánh 30 điểm; số 02 đánh 10 điểm. Mỗi điểm lô thống nhất số tiền 21.800 đồng, tương ứng số tiền 4.142.000 đồng.

- Đánh số đề tương ứng số tiền 1.212.000 đồng gồm: số 89, 09, 90 mỗi số đánh 60.000 đồng, số 57, 75, 05, 50, 27, 72, 38, 83 đánh 42.000 đồng; số 53, 35, 32, 23, 56, 65 mỗi số đánh 30.000 đồng; số 87, 95, 46 mỗi số đánh 12.000 đồng; số 05, 50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94, 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số đánh 24.000 đồng.

- Đánh số lô xiên tương ứng số tiền 460.000 đồng gồm: Lô xiên 2 gồm các dãy số: “89, 72”; “11, 42”; “11, 24” mỗi dãy số đánh 120.000 đồng; tổng cộng đánh 360.000 đồng. Lô xiên 3 gồm dãy số “72, 50, 83” đánh 100.000 đồng.

Sau khi nhận 03 tin nhắn lô, đề của T2 thì T nhắn tin lại “Ok Tin 1”, “OK Tin 2”, “OK Tin 3” có nghĩa là T đồng ý đánh bạc cùng với T2.

Như vậy, tổng số tiền T2 và T sử dụng để đánh bạc ngày 07/01/2025 là 5.814.000 đồng. Số tiền này T2 và T chưa thanh toán cho nhau.

Quá trình đánh, nếu người ghi số lô, số đề (khách chơi) không trúng thưởng thì bị mất cho người đứng ghi số lô, số đề (chủ đề) số tiền đã bỏ ra đánh, nếu trúng thưởng thì được nhận số tiền thưởng theo tỷ lệ như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án: - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng đã qua sử dụng, bên trong máy lắp sim điện thoại 0976.286.xxx thu giữ của Nguyễn Thị T2.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50, màu đen đã qua sử dụng, bên trong máy lắp sim điện thoại 0564.017.xxx, thu giữ của Võ Thị Mai T.

Cáo trạng số 147/CT-VKS-TPV ngày 04/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Vinh đã truy tố Võ Thị Mai T, Nguyễn Thị Thu T3 “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Võ Thị Mai T 06 – 09 tháng cải tạo không giam giữ. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Nguyễn Thị T2 06 – 09 tháng cải tạo không giam giữ. Ngoài ra, đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật và đề nghị truy thu số tiền 5.814.000 đồng từ bị cáo T2 là số tiền dùng để đánh bạc.

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 07/01/2025 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị T2 và Võ Thị Mai T đã có hành vi sử dụng điện thoại di động để nhắn tin đánh bạc với nhau qua ứng dụng telegram bằng hình thức ghi số lô, số đề với tổng số tiền 5.814.000 đồng. Như vậy hành vi các bị cáo Võ Thị Mai T, Nguyễn Thị T2, thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

[2.2]. Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến an ninh công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống, gây mất trật tự trên địa bàn thành phố. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, các bị cáo đều nhận thức được đánh bạc là tội phạm thuộc tệ nạn xã hội nhưng vì hám lợi nên vẫn phạm tội, do đó, cần xét xử nghiêm. Bị cáo Võ Thị Mai T là người nhận các số đề từ bị cáo Nguyễn Thị T2 nên bị cáo T phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T2.

Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bố của bị cáo T2 là thương binh 4/4, tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo. Xét bị cáo T, T2 đều có nơi cư trú rõ ràng; tang số đánh bạc thấp, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 BLHS cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Quá trình điều tra xác định, các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên cần miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng cho các bị cáo nhưng cần buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ là phù hợp.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 50.000.000 đồng nhưng các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập bấp bênh, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[2.4]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50 thu giữ của Võ Thị Mai T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng thu giữ của Nguyễn Thị T2 là công cụ phạm tội cần tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Đối với số tiền 5.814.000 đồng là tiền mà bị cáo T2 sử dụng để đánh bạc nhưng chưa thanh toán cho bị cáo T nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

[2.6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Võ Thị Mai T, Nguyễn Thị T2 phạm tội "Đánh bạc".

Căn cứ điểm khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Võ Thị Mai T 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giữ (03 ngày), buộc bị cáo phải chấp hành 06 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt Nguyễn Thị T2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giữ (03 ngày), buộc bị cáo phải chấp hành 05 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo T, bị cáo T2 cho UBND phường N giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 tiếng/ngày và không quá 05 ngày/tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 điều 106 của BLTTHS: Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A50 thu giữ của Võ Thị Mai T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng thu giữ của Nguyễn Thị T2 (theo Phiếu nhập kho số NK 2025/175 ngày 14/04/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh). Truy thu số tiền 5.814.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Thị T2.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Thị T2, Võ Thị Mai T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND thành phố Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Chi cục THADS TP.Vinh
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Nghệ An
  • - Bị cáo
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hồ Nữ Hạnh Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 123/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 07 tháng cải tạo không giam giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger