|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2025/HS-ST Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cáp Văn Dũng – Cán bộ hưu
- Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Giáo viên nghỉ hưu
-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đắc Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Lương Văn H, sinh ngày 07/06/2006;
Nơi thường trú: Thôn L, xã Luận Thành, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở trước khi phạm tội: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T, sinh năm 1970 và con bà Lê Thị T1, sinh năm 1974; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố B. (Có mặt)
-
Phạm Dương Quốc V, sinh ngày 14/9/2006;
Nơi thường trú: Khu F, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở trước khi phạm tội: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L, sinh năm 1968 và con bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1968; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố B. (Có mặt)
-
Khằm Văn M, sinh ngày 20/11/2006;
Nơi thường trú: Xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi ở trước khi phạm tội: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khằm Văn K, sinh năm 1970 và con bà Đinh Thị V1 (đã chết); gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
-
Lường Văn T3, sinh ngày 29/10/2007;
Nơi thường trú: Bản P, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi ở trước khi phạm tội: Khu M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn H1, sinh năm 1989 và bà Lường Thị Đ, sinh năm 1990; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
-
Nguyễn Văn T4, sinh ngày 07/02/2008;
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khu M, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978 và con bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ con: Chưa có;
Nhân thân: Tại Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 26/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử Nguyễn Văn T4 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Tiền án, tiền sự: Không.
-
Lý Tuấn A, sinh ngày 06/4/2008;
Nơi thường trú: Thôn P, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở trước khi phạm tội: Khu M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Q, sinh năm 1981 và bà Trương Thị D, sinh năm 1990; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố B. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lường Văn T3: Bà Lường Thị P, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La (là bà nội của bị cáo T3). (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn T4: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982 (bố mẹ đẻ của bị cáo T4); Nơi cư trú: Khu M, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Ông N có mặt, bà H2 vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lý Tuấn A: Ông Lý Văn Q, sinh năm 1981 và bà Trương Thị D, sinh năm 1990 (bố mẹ đẻ của bị cáo Tuấn A); Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. (Đều có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Dương Quốc V: Luật sư Nguyễn Thị Thanh H3 – Đoàn luật sư thành phố H và Luật sư Nguyễn Văn P1 – Đoàn luật sư tỉnh B, thuộc Chi nhánh Công ty L1 tại Bắc Ninh; Địa chỉ: Số E Hồ N, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Luật sư H3 vắng mặt, luật sư P1 có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn T3, Lý Tuấn A: Bà Đặng Thị H4 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T4: Bà Nguyễn Thị Hương T5 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Khằm Văn M: Bà Phan Thị Thu H5 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. (Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).
- Anh Lương Văn Đình A1, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Số A, đường N, khu phố F, phường B, thị xã B, thành phố T (mẹ bị cáo V). (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 23/10/2024, Phạm Dương Quốc V, Nguyễn Văn T4, Lương Văn H, Khằm Văn M và đối tượng tên T6 (chưa xác định được danh tính) đang ngồi uống nước ở khu vực cầu vượt “Làng G" thuộc khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, thì cả bọn rủ nhau lên thành phố B chơi. Khi đi, V điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu xanh đen bạc, không gắn BKS (xe đăng ký BKS 36F5 - 191.22, V tháo biển số cất trong cốp xe) đi một mình; T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím, không gắn BKS (xe của T6) chở M ngồi sau; T6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AIRBLADE màu xanh, không gắn BKS, xe của H (xe đăng ký BKS 36B5 - 924.14, H tháo biển số cất trong cốp xe) chở H ngồi sau đi theo đường Q lên thành phố B. Khi đi đến ngã 4 đèn xanh, đèn đỏ gần cầu “Đại Phúc” thuộc phường V, thành phố B thì gặp Lý Tuấn A điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen, BKS 11S1-046.89 chở Lường Văn T3. Sau đó, Tuấn A và T3 cùng nhóm của H lên thành phố B chơi.
Khi nhóm của H đang đi trên đường L hướng cột đồng hồ đi ngã 6, thì gặp 02 nam thanh niên không quen biết điều khiển xe mô tô Honda Wave màu cam, không gắn BKS đi từ phía sau vượt lên đánh võng, ép xe nhóm H vào sườn đường, người thanh niên ngồi sau, tay phải cầm 01 bình hơi cay xịt về nhóm của H thì nhóm của H đuổi theo đến ngã 6 để đánh nhưng không kịp nên cả nhóm đã bỏ về Q. Khi đi đến khu D, phường P, thị xã Q thì H và T6 rủ cả nhóm quay lại thành phố B tìm 02 nam thanh niên vừa xịt hơi cay để đánh thì cả nhóm đồng ý. Khi nhóm của H đi đến vòng xuyến ngã 6, rẽ vào đường L hướng đi Cột đồng hồ thì thấy 01 nhóm thanh niên điều khiển khoảng 8 - 10 xe mô tô đi bên đường đối diện hướng ngược chiều, trong đó có xe mô tô của 02 thanh niên đã xịt hơi cay trước đó, nhóm thanh niên kia hô “nó kia” và thách thức “chúng mày thích thì đuổi bọn tao”. Thấy vậy, nhóm của H có chửi lại “thích thế nào” thì nhóm thanh niên kia quay xe hô hoán và đuổi đánh nhóm H. Bị đuổi, nhóm của H bỏ chạy về hướng ngã 6 rồi rẽ vào đường T đi về thị xã Q. Nhóm thanh niên kia đuổi nhóm H đến cầu Đ thì dừng lại. Do bị nhóm thanh niên đuổi đánh nên khi đi đến khu P, phường P, thị xã Q, H và T6 rủ mọi người tìm hung khí cùng nhau lên thành phố B tìm đánh lại nhóm thanh niên kia thì cả bọn đồng ý rồi điều khiển xe đi đến đoạn đường hàng cây thuộc khu P thì dừng lại, T3 lấy 01 két vỏ chai bia Tiger màu bạc đặt lên yên xe và ngồi sau xe do Tuấn A điều khiển, M lấy 01 két vỏ chai bia Tiger màu bạc trên vỉa hè bên phải đường đặt lên yên xe và ngồi sau xe do T4 điều khiển, H lấy 01 gậy tre dài khoảng 3,5m, đường kính khoảng 3cm và ngồi sau xe do T6 điều khiển, còn V điều khiển xe đi một mình cùng nhau đi lên thành phố B tìm đánh nhóm thanh niên đuổi đánh trước đó.
Khi nhóm của H đi đến khu vực gần tượng đài Hoa Sen trên đường L, hướng ngã 6 đi Cột đồng hồ, thì phát hiện nhóm thanh niên vừa đuổi đánh nhóm của H trước đó đang đi ở bên đường đối diện, nhóm thanh niên này chửi và thách thức nhóm của H. Lúc này, các xe trong nhóm của H đi cách nhau khoảng 3 - 5m, T3 thấy nhóm thanh niên chửi và thách thức nên đã cầm 01 vỏ chai bia ném về phía nhóm thanh niên (không rõ có trúng ai hay không), thì nhóm thanh niên này tiếp tục chửi và thách thức, nên nhóm của H quay xe lại đuổi theo nhóm thanh niên này để đánh. Khi nhóm của H đuổi đến ngã 6 thì nhóm thanh niên này bỏ chạy toán loạn về các hướng khác nhau, trong đó có 03 xe mô tô chạy về hướng Cột đồng hồ, nhóm của H tiếp tục đuổi theo 03 xe mô tô này đến cột Cột đồng hồ rồi vòng quay lại vào đường H hướng đi Bệnh viện S. Khi cách Bệnh viện S khoảng 300m, do không đuổi kịp nên cả nhóm đã dừng xe lại. Tại đây, cả nhóm chia vỏ chai bia để khi gặp nhóm thanh niên kia thì ném. H vứt gậy tre đi và cầm 03 vỏ chai bia, M cầm 06 vỏ chai bia còn T3, T4, V, Tuấn A và T6 không cầm gì. Sau đó, Tuấn A chở T3 ngồi sau, T4 chở M ngồi sau, T6 chở H ngồi sau còn V một mình điều khiển xe đi ra đường L hướng vòng xuyến ngã 6 để tìm nhóm thanh niên kia để đánh. Quá trình đi trên đường các đối tượng điều khiển xe đi tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, hô hoán, H và M vừa đi vừa cầm vỏ chai bia ném vào vỉa hè bên phải gây tiếng nổ (các đối tượng không nhớ cụ thể các vị trí đã ném vỏ chai bia). Khi đi đến vòng xuyến ngã 6, do không tìm được nhóm thanh niên kia nên nhóm của H rẽ vào đường T hướng về cầu “Đại Phúc” để đi về. Trên đường về T3 vứt két vỏ bia trên vỉa hè bên phải trước cửa số nhà E khu Phố V, phường Đ, M vứt két vỏ bia vào bụi cây bên trái tại ngã 3 giao nhau đường T với đường Đ Sau đó, nhóm của H tiếp tục đi về hướng cầu Đ, xe H đi trước, sau là xe của T4, xe của V, đi sau cùng là xe của Tuấn A.
Khi đi qua cổng cơ quan Phòng cháy chữa cháy trên đường T, phường Đ (cơ sở B - Công an thành phố B), thấy nhóm của H điều khiển xe lạng lách, đánh võng và bíp còi nên các đồng chí Công an nghĩa vụ của Công an thành phố B đi ra cổng quát mắng nên Tuấn A điều khiển xe mô tô chở T3, V điều khiển xe mô tô quay lại ngã 3 giao nhau giữa đường T với đường Đ lấy két vỏ chai bia. Tại đây, T3 bê két vỏ chai bia để lên yên xe của Tuấn A rồi đưa cho V cầm 01 vỏ chai bia, Tuấn A cầm 03 vỏ chai bia, T3 ngồi sau giữ két vỏ chai bia và cầm 02 vỏ chai bia đi quay lại cổng phòng cháy chữa cháy ném vỏ chai bia về phía các chiến sỹ Công an nghĩa vụ đang đứng ở cổng trụ sở, ném xong Tuấn A điều khiển xe chở T3 và V điều khiển xe mô tô vòng đi vòng lại cổng cơ quan Phòng cháy chữa cháy nhiều vòng và thách thức. Khi đi đến cổng chào Đ, thấy Tuấn A, T3 và V ném vỏ chai bia và hò hét trước cổng cơ quan Phòng cháy chữa cháy nên T4 điều khiển xe chở M quay lại thì thấy Tuấn A vứt két bia ở giữa đường, trước cổng Phòng cháy chữa cháy có nhiều mảnh chai bia vỡ, T4 đỗ xe lại, M xuống xe nhặt vỏ két bia ném vào lề đường. Sau đó, sợ bị phát hiện, Tuấn A đèo T3 và cùng V điều khiển xe bỏ chạy về hướng Q còn T4 điều khiển xe chở M bỏ chạy về hướng cầu Đ rồi rẽ phải vào khu dân cư phường Đ tìm đường khác để đi về thị xã Q. Khi đi đến khu L, phường V, T4 gọi điện thoại cho Tuấn A bảo cả nhóm tập trung ở khu G, phường P, thị xã Quống nước. Sau đó, nhóm của H vào quán nước ở đầu khu G uống nước khoảng 30 phút thì cả bọn đi về.
Vụ việc các đối tượng điều khiển xe mô tô cầm hung khí là vỏ chai bia, gậy tre đuổi, đánh nhau trên đường phố trong khoảng thời gian từ 23 – 24 giờ ngày 23/10/2024 và rạng sáng ngày 24/10/2024 đã gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn xã hội trên nhiều tuyến đường tại các phường V, N, Đ thuộc thành phố B. Ngày 25, 26, 29/10/2024, UBND phường V, phường Đ và phường N (nay là phường T) có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng.
Ngày 25/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra lệnh giữ người khẩn cấp, tiến hành khám nghiệm hiện trường và lấy lời khai đối với Lường Văn T3, Lương Văn H, Lý Tuấn A, Phạm Dương Quốc V và Khằm Văn M.
Ngày 27/11/2024, Nguyễn Văn T4 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
* Việc thu giữ vật chứng, tài sản liên quan: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air balde, màu xanh đen bạc, BKS 36B5 - 924.14, số máy JF63E1534143, số khung 6305FZ180064 đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 36B5-924.14 mang tên Lương Thị T7 do H giao nộp;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 36F5 - 191.22, số máy JA39E2353461, số khung RLHJA3926MY233704 đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 36F5-191.22 mang tên Đỗ Thị T2 do V giao nộp;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 11S1 - 046.89, số máy JA39E3067081, số khung RLHJA3929PY716706 đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 11S1 - 046.89 mang tên Hoàng Văn Đ1 do Tuấn A giao nộp;
- + Các mảnh thủy tinh vỡ của vỏ chai bia nhãn hiệu “Tiger” và 04 vỏ chai bia thủy tinh màu trắng bạc nhãn hiệu “Tiger” thu tại hiện trường.
- + 01 đĩa DVD bên trong lưu 03 đoạn video ghi lại hình ảnh các bị cáo điều khiển xe mô tô, mang theo hung khí đi trên đường T, L và Ngã 6, thành phố B ngày 24/10/2024.
Quá trình điều tra, các bị cáo Lường Văn T3, Khằm Văn M, Phạm Dương Quốc V, Lương Văn H, Lý Tuấn A và Nguyễn Văn T4 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 36/CT-VKS-TPBN ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4 và Lý Tuấn A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A đều thành khẩn khai nhận, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với toàn bộ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và lưu giữ trong hồ sơ, đề nghị giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo.
Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lương Văn H từ 30 đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Dương Quốc V từ 28 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:
- Bị cáo Khằm Văn M từ 15 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
- Bị cáo Lường Văn T3 từ 15 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
- Bị cáo Lý Tuấn A từ 15 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T4 từ 16 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy mảnh vỡ của vỏ chai bia nhãn hiệu “Tiger” và 04 vỏ chai bia thủy tinh màu trắng bạc nhãn hiệu “Tiger” (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 74 ngày 11/02/2025 giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).
- + Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong lưu 03 đoạn video ghi lại hình ảnh các bị cáo điều khiển xe mô tô, mang theo hung khí đi trên đường T, L và Ngã 6, thành phố B ngày 24/10/2024.
* Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
* Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn T3 và Khằm Văn M do là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Phạm Dương Quốc V - Luật sư Nguyễn Văn P1 trình bày: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; năm 2022 bị cáo V có công cứu giúp người đuối nước và đã được UBND phường B xác nhận nên đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài ra gia đình bị cáo V là gia đình có truyền thống cách mạng, bác ruột của bị cáo được Nhà nước trao tặng bằng khen quý giá, đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên đề nghị cho bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo V có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt nằm trong khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo V có khả năng tự cải tạo, không cần thiết bắt chấp hành hình phạt tù, kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo V sớm quay trở lại với gia đình và xã hội để làm tròn bổn phận của một người con trong gia đình, có nhiều cống hiến cho xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn T3, Lý Tuấn A, Trợ giúp viên pháp lý - bà Đặng Thị H4 trình bày: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T3 và bị cáo Tuấn A. Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các quy định đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội. Căn cứ vào khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, giúp các bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Lường Văn T3 là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T4, Trợ giúp viên pháp lý - bà Nguyễn Thị Hương T5 trình bày: Nhất trí với tội danh và các điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T4 là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T4 dưới 18 tuổi nên chưa nhận thức hết được tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định pháp luật đối với người phạm tội dưới 18 tuổi cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, làm lại cuộc đời.
Người bào chữa cho bị cáo Khằm Văn M, trợ giúp viên pháp lý - bà Phan Thị Thu H5 trình bày: Nhất trí với tội danh và các điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo M là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình hoàn cảnh éo le (mẹ mất sớm, thuộc diện hộ nghèo). Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xem xét các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Căn cứ vào khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, giúp bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội, miễn án phí cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo và các bị cáo đều nhất trí với ý kiến của luật sư, trợ giúp viên pháp lý, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội học tập, sửa chữa lỗi lầm.
Ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát: Đối với quan điểm bào chữa của luật sư P1, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề xuất áp dụng tình tiết bị cáo V có công giúp người đuối nước là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự mà giữ nguyên mức hình phạt và điều luật áp dụng đối với bị cáo V. Các quan điểm bào chữa của các trợ giúp viên pháp lý thì cơ bản thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nên không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và đánh giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Đ1, anh Lương Văn Đình A1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tại cơ quan điều tra, anh Đ1 và anh A1 có lời khai đã nhận được lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự, xét thấy việc vắng mặt này, không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 24/10/2024, do khi đi chơi trên thành phố B bị nhóm thanh niên không quen biết đi trên khoảng 8 - 10 xe mô tô đuổi đánh và thách thức đánh nhau nên các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A và đối tượng tên T6 (chưa xác định được danh tính) rủ nhau lấy 02 két vỏ chai bia thủy tinh và 01 gậy tre dài khoảng 3,5m, đường kính khoảng 3cm tại khu P, phường P, thị xã Q để đi lên thành phố B tìm đánh nhóm thanh niên kia. Khi đi, Tuấn A điều khiển xe mô tô đèo T3 giữ 01 két vỏ chai bia Tiger ở yên xe, T4 điều khiển xe mô tô đèo Minh giữ 01 két vỏ chai bia Tiger ở yên xe, T6 điều khiển xe mô tô đèo H cầm gậy tre còn V điều khiển xe mô tô đi một mình. Khi đi đến khu vực tượng đài “Hoa Sen” trên đường L nhóm của H gặp nhóm thanh niên lúc trước đuổi đánh nhóm của H, hai nhóm có chửi bới và thách thức nhau thì T3 có cầm 01 chai bia ném về phía nhóm thanh niên kia rồi cả nhóm của H điều khiển xe đuổi theo nhóm thanh niên đến ngã 6 làm nhóm thanh niên này bỏ chạy toán loạn về các hướng khác nhau, trong đó có 03 xe mô tô bỏ chạy về hướng Cột đồng hồ thì cả nhóm của H đuổi theo đến C đồng hồ rồi vòng ngược lại vào đường H hướng đi Bệnh viện S. Nhóm của H đuổi theo khi cách Bệnh viện sản nhi khoản 300m, do không đuổi kịp nên cả nhóm dừng lại chia vỏ chai bia để ném, lúc này H vứt gậy tre đi và cầm 03 vỏ chai bia, M cầm 06 vỏ chai bia. Khi đi trên đường, các bị cáo điều khiển xe đi tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, hô hoán, H và M vừa đi vừa cầm vỏ chai bia ném vào vỉa hè bên phải gây tiếng nổ. Do không đuổi được nhóm thanh niên kia nên nhóm của H rẽ vào đường T hướng về cầu “Đại Phúc” để đi về thị xã Q. Trên đường về T3 vứt két vỏ bia trên vỉa hè bên phải trước cửa số nhà E khu Phố V, phường Đ, M vứt két vỏ bia vào bụi cây bên trái tại ngã 3 giao nhau đường T với đường Đ và đi về phía cầu Đ.
Khi đi qua cổng cơ quan Phòng cháy chữa cháy, thấy nhóm của H điều khiển xe lạng lách, đánh võng và bíp còi nên các đồng chí Công an nghĩa vụ Công an thành phố B đi ra cổng quát mắng thì Tuấn A điều khiển xe mô tô chở T3, V điều khiển xe mô tô quay lại ngã 3 giao nhau giữa đường T với đường Đ, T3 bê két vỏ chai bia lên yên xe của Tuấn A rồi đưa cho V cầm 01 vỏ chai bia, Tuấn A cầm 03 vỏ chai bia, T3 ngồi sau giữ két vỏ chai bia và cầm 02 vỏ chai bia đi quay lại cổng phòng cháy chữa cháy ném vỏ chai bia về phía các chiến sỹ Công an nghĩa vụ đang đứng ở cổng trụ sở, ném xong Tuấn A điều khiển xe chở T3 và V điều khiển xe mô tô vòng đi vòng lại cổng cơ quan Phòng cháy chữa cháy nhiều vòng và thách thức. Thấy Tuấn A, T3 và V ném vỏ chai bia và hò hét trước cổng cơ quan Phòng cháy chữa cháy nên T4 điều khiển xe chở M quay lại thì thấy Tuấn A vứt két bia ở giữa đường, trước cổng Phòng cháy chữa cháy có nhiều mảnh chai bia vỡ, T4 đỗ xe lại, M xuống xe nhặt vỏ két bia ném vào lề đường còn T6 điều khiển xe chở H đi về Quế Võ trước. Sau đó, nhóm của H hẹn nhau ở quán nước ở đầu khu G uống nước khoảng 30 phút thì cả bọn đi về.
Hành vi của các bị cáo điều khiển xe mô tô phóng nhanh, lạng lách, đánh võng và sử dụng hung khí là vỏ chai bia, gậy tre đuổi, đánh nhau trên đường phố và ném vỏ chai bia, thách thức các chiến sỹ công an đã gây mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới an toàn trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Đánh giá vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể từ trước nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
Mặc dù tất cả các bị cáo không cùng nhau trao đổi, bàn bạc từ trước nhưng các bị cáo đã thông qua việc đối tượng này rủ đối tượng khác và cùng nhau tạo điều kiện vật chất và tinh thần cho nhau thực hiện hành vi làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Khi gây rối trật tự công cộng, các bị cáo đều cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình, mong muốn sự tham gia của các bị cáo khác, thấy trước hậu quả chung nguy hiểm cho xã hội nhưng khi tham gia các bị cáo không có sự cản trở, can ngăn mà cùng nhau thực hiện tội phạm đến cùng.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo thì xét thấy bị cáo Lương Văn H là đối tượng phạm tội tích cực nhất, bởi lẽ sau khi bị nhóm thanh niên thách thức thì H là người rủ rê, xúi giục cả nhóm đi tìm hung khí và quay lại thành phố B tìm đuổi đánh lại nhóm thanh niên kia. Đồng thời, khi thực hiện hành vi phạm tội, H có tham gia tích cực khi mang theo hung khí khi là gậy tre, khi là vỏ chia bia ném liên tiếp vào vỉa hè. Tiếp đến vai trò của các bị cáo V, M, T3, T4, Tuấn A cùng nhau thực hiện hành vi pham tội, người thì điều khiển xe mô tô để tạo điều kiện cho người ngồi sau thì ném vỏ chia bia gây rối trật tự công cộng nên cần xác định các bị cáo có vai trò ngang nhau.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A đều chưa đủ 18 tuổi nên các bị cáo được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội về hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự, Điều 119, khoản 2 Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên (được áp dụng kể từ ngày Luật tư pháp người chưa thành niên được công bố, ngày 02/12/2024).
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T4 có nhân thân xấu, trước khi thực hiện hành vi phạm tội tại thành phố B, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội tương tự và đã bị Công an thị xã Q khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tại Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt bị cáo T4 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên không tiến hành tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Văn H có hành vi rủ rê, xúi giục các bị cáo khác phạm tội trong đó có nhiều bị cáo dưới 18 tuổi nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hính sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T4 sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo V có bác ruột tên Đỗ Thanh M1 là liệt sỹ, bị cáo đã từng cứu người đuối nước và được Ủy ban nhân dân phường xác nhận có tích cực tham gia hoạt động tại địa phương nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ cứu người bị đuối nước không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng cho bị cáo V theo quan điểm bào chữa của luật sư mà áp dụng cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời, không chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn cho bị cáo M như quan điểm của trợ giúp viên pháp lý bởi lẽ bị cáo đã học đến lớp 10/12, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo sinh sống và lao động tại thành phố B nên bị cáo đủ khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình.
Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân các bị cáo phần lớn đều đang trong độ tuổi học tập và lao động nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không chú tâm vào học tập mà lại thích tụ tập lêu lổng, rủ nhau thực hiện hành vi phạm tội, hơn nữa khi bị các chiến sỹ công an nhắc nhở thì các bị cáo lại có thái độ côn đồ, thách thức, chứng tỏ các bị cáo rất coi thường pháp luật. Các bị cáo đều không có nơi cư trú ổn định nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật, đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm có anh Hoàng Văn Đ1, anh Nguyễn Văn Đình A2, bà Đỗ Thị T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Balde, màu xanh đen bạc, BKS 36B5 - 924.14 của anh Nguyễn Văn Đình A2 do Lương Văn H giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 11S1 - 046.89 của anh Hoàng Văn Đ1 do Lường Văn T3 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 36F5 - 191.22 của bà Đỗ Thị T2 do Phạm Dương Quốc V giao nộp. Quá trình điều tra xác định khi các bị cáo lấy và sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì anh A2, anh Đ1 và bà T2 không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng hợp pháp đúng quy định pháp luật.
Đối với các mảnh vỡ của vỏ chai bia nhãn hiệu “Tiger” và 04 vỏ chai bia thủy tinh màu trắng bạc nhãn hiệu “Tiger” là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh các bị cáo điều khiển xe mô tô, mang theo hung khí đi trên đường T, L và ngã 6, thành phố B ngày 24/10/2024 là chứng cứ cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[8] Liên quan trong vụ án này:
Đối với đối tượng tên Tiệp tham gia cùng các bị cáo khi đuổi đánh nhóm thanh niên trên đường L. Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận chỉ biết tên là T6 còn tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý theo quy định.
Đối với hành vi của Phạm Dương Quốc V điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe; Lý Tuấn A và Nguyễn Văn T4 (từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm³ trở lên; Lường Văn T3, Hoàng Văn Đ1 và Lương Văn Đình A1 giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông. Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền là có căn cứ.
Đối với nhóm thanh niên đã thách thức, điều khiển xe mô tô đuổi đánh nhóm của H trên đường L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa có kết quả, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí: Các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Khằm Văn M và Lường Văn T3 do là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Lương Văn H 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Phạm Dương Quốc V 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 12, 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:
Bị cáo Khằm Văn M 17 (mười bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
Bị cáo Lường Văn T3 17 (mười bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
Bị cáo Lý Tuấn A 17 (mười bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 12, 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T4 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
-
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Khằm Văn M, Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ của vỏ chai bia nhãn hiệu “Tiger” và 04 vỏ chai bia thủy tinh màu trắng bạc nhãn hiệu “Tiger”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 74 ngày 11/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).
Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh các bị cáo điều khiển xe mô tô, mang theo hung khí đi trên đường T, L và ngã 6, thành phố B ngày 24/10/2024.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Khằm Văn M và Lường Văn T3.
Các bị cáo Lương Văn H, Phạm Dương Quốc V, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo Lường Văn T3, Nguyễn Văn T4, Lý Tuấn A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Tuyết Nhung |
Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 123/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng, Luật tư pháp người chưa thành niên