Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/DS-PT

Ngày: 18-3-2025

“V/v Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh;
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 269/2024/DS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 79/2025/QĐ-PT ngày 04/2/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1962;
    2. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Ngân Hàng N;
    4. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc.

      Địa chỉ: Số B, đường L, quận B, Thành phố Hà Nội.

  2. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Hoàng D, chức vụ: Trưởng phòng khách hàng A Chi nhánh huyện T.

    Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền ngày 14/8/2024.

  3. Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970;
    2. Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Chị Phạm Thị G, sinh năm 1985;
    4. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phan Thanh H, sinh năm 1960;
    2. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Anh Bùi Hữu C, sinh năm 1985.
    4. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Anh Bùi Hữu C và chị Phạm Thị G ủy quyền cho anh Hồ Đăng K sinh năm 1989, địa chỉ: số G, H, khóm B, phường B, thành phố C, Đồng Tháp.

  • - Người kháng cáo: Ngân Hàng N, Chị Phạm Thị G, Anh Bùi Hữu C.
  • - Viện kiểm sát không kháng nghị.

(Nguyên đơn theo ủy quyền của ngân hàng, anh K có mặt; bà T, ông H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Đ vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện bà Đoàn Thị T trình bày: Vào năm 2010, bà T và ông H (Ông H là chồng của bà T) có mua của UBND huyện T 02 nền nhà diện tích mỗi nền 81m², thuộc thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại Khu dân cư trung tâm của xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đất do ông H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi mua phần đất này thì bà T và ông H quản lý, sử dụng cho đến nay. Sau nhiều lần đi từ thiện chung thì ông H có mối quan hệ thân thiết bạn bè với bà Đ. Sau đó, bà Đ kẹt tiền nên hỏi ông H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng. Theo ông H trình bày thì trong lúc ông H đang nhậu ở quán thì bà Đ và anh L (Địa chính xã T) có đến quán gặp ông H nói nhờ ký tên sửa sai giấy đất để cho bà Đ bổ sung hồ sơ vay vốn, do tin tưởng ông H không có đọc nội dung nên không biết mình ký tên chuyển nhượng đất cho bà Đ. Sau này, khi phát hiện sự việc thì bà T và ông H đến gặp bà Đ thì bà Đ nói ngang là ông H đã chuyển nhượng đất cho bà Đ nên đây là đất của bà Đ. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Bà T xác định phần đất trên là tài sản chung của bà T và ông H, ngoài ra không còn ai khác.

Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và bà Đ tại thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, được UBND xã T chứng thực vào ngày 04/3/2022. Đồng thời, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên tại hai thửa trên.
  • Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đ và anh C tại thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, được UBND xã T chứng thực vào ngày 25/3/2022. Đồng thời, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh Bùi Hữu C đứng tên tại hai thửa trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì bà T không đồng ý và yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với anh C và chị G. Ngoài ra, bà T không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo đơn khởi kiện Ngân Hàng N trình bày: Ngân hàng có cho chị G vay vốn theo hợp đồng tín dụng số 6505LAV202400497 ngày 17/01/2024, số tiền vay là 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày vay, lãi suất là 8,5%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn và mức lãi suất còn phải thực hiện theo Điều 2 được ghi trong hợp đồng tín dụng. Tài sản thế chấp cho Ngân hàng là quyền sử dụng đất của anh C và chị G, diện tích 405m² (Loại đất ONT), số seri DC 237789, DC 237790, DC 237791, DD 237796 và DD 237797. Trong quá trình vay thì chị G đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn và lãi cho Ngân hàng. Sau đó, chị Giàu C1 trả cho Ngân hàng 01 phần vốn và lãi nên hiện nay chỉ còn nợ Ngân hàng số tiền vay vốn là 1.245.000.000 đồng.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị G và anh C phải liên đới trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 1.245.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 17.689.000 đồng và có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đến khi trả nợ xong. Trường hợp không trả nợ thì phát mại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 để thu hồi nợ vay.

* Theo ý kiến tại văn bản ý kiến bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Vào ngày 04/3/2022, bà có nhận chuyển nhượng của ông H 02 thửa đất diện tích là 162m², thuộc thửa số 63 và 65, tờ bản đồ số 51. Sau đó, bà có chuyển nhượng lại cho anh C ở xã M, hai bên đã làm thủ tục hợp lệ và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc bà T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh C đứng tên là hoàn toàn không có căn cứ. Bà không đồng ý theo yêu cầu của bà T.

* Theo ý kiến chị Phạm Thị G, anh Bùi Hữu C trình bày: Anh C và chị G là vợ chồng. Vào năm 2022, anh C có nhận chuyền từ bà Đ 02 thửa đất trên với giá 2.000.000.000 đồng. Ngay ngày ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì anh C đã giao đủ số tiền trên 01 lần bằng tiền mặt cho bà Đ và bà Đ có giao đất cho anh C. Sau đó, anh C và chị Giàu C1 thế chấp 02 phần đất này cùng với 03 phần đất khác để vay vốn tại Ngân hàng. Anh C và chị G thống nhất theo toàn bộ lời trình bày của phía Ngân hàng. Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì anh C và chị G không thống nhất trả theo yêu cầu của bà T. Đối với yêu cầu của Ngân hàng thì anh C và chị G thống nhất trả theo toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng. Đối với vụ án này thì anh C và chị G không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh C và chị G không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến của ông Phan Thanh H trình bày: Ông H là chồng của bà T, ông H thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của bà T. Ông H thừa nhận trước đây có giấu bà T việc cho bà Đ mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền vì thấy hoàn cảnh của bà Đ khó khăn. Ông H xác định không có việc ông H chuyển nhượng phần đất trên cho bà Đ, bà Đ không có tiền phải mượn giấy đất của ông H để vay tiền thì làm gì có tiền mà mua đất của ông H. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/3/2022 thì ông H không hề đến UBND xã T để ký, mà ông H nhớ ông H đang nhậu ở quán thì bà Đ và anh L (Địa chính xã T) có đến quán gặp ông nhờ ký tên sửa sai giấy đất gì đó để bà Đ bổ sung vào hồ sơ vay vốn, do tin tưởng anh L nên ông H đã ký tên mà không đọc lại nội dung. Sau này, khi phát hiện sự việc thì bà Đ nói ngang là ông H đã chuyển nhượng đất qua cho bà Đ thì ông H mới biết là đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng trên. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Ông H xác định phần đất trên là tài sản chung của ông H và bà T, ngoài ra không còn ai khác.

Đối với vụ án này do bà T đã yêu cầu rồi nên ông H giao cho bà Trong toàn quyền quyết định, ông H không có yêu cầu gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông H không đồng ý. Ngoài ra, ông H không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T.

  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/3/2022 giữa ông Phan Thanh H với bà Nguyễn Thị Đ là giao dịch dân sự vô hiệu.
  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/3/2022 giữa bà Nguyễn Thị Đ với anh Bùi Hữu C là giao dịch dân sự vô hiệu.
  • Bà T được quyền sử dụng phần đất ở tại nông thôn diện tích đo đạc thực tế 81m², trong phạm vi các mốc M1, M2, M5, M6 trở về mốc M1, thuộc thửa số 63, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Bùi Hữu C vào ngày 07/4/2022.
  • Bà T được quyền sử dụng phần đất ở tại nông thôn diện tích đo đạc thực tế 81m², trong phạm vi các mốc M2, M3, M4, M5 trở về mốc M2, thuộc thửa số 65, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Bùi Hữu C vào ngày 07/4/2022.
  • Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Đ và anh C để cấp quyền sử dụng đất lại cho bà T.
  • Bà T, bà Đ và anh cần được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  • Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2023 của Tòa án và Sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023 của Công ty TNHH D1.

3.2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

  • Công nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng N với chị Phạm Thị G và anh Bùi Hữu C. Chị G và anh C đồng ý liên đới trả lại cho Ngân hàng số tiền còn nợ vay gốc là 1.245.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 17.689.000 đồng; Tổng cộng là 1.262.689.000 đồng (Một tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm tám mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6505LAV202400497 ngày 17/01/2024 cho đến khi trả xong nợ.
  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với yêu cầu trong trường hợp chị G và anh C không trả nợ thì phát mại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 để thu hồi nợ vay. Đồng thời, tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 giữa Ngân hàng với chị G và anh C là giao dịch dân sự vô hiệu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

4. Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngân Hàng N kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm và sửa bản án số 269/2024/DS-ST ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân Hàng N: “Buộc chị G và anh C phải liên đới trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 1.245.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 17.689.000 đồng và có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đến khi trả nợ xong. Trường hợp không trả nợ thì phát mại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 để thu hồi nợ vay”.

- Chị Phạm Thị G, anh Bùi Hữu C kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị T. Về tố tụng yêu vầu xem xét lại việc nguyên đơn không có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, hủy hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng giữa anh C và bà Đ là vượt quá yêu cầu của nguyên đơn.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn bà Đoàn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
  • Nguyên đơn Ngân Hàng N giữ nguyên ý kiến tại cấp sơ thẩm; Không đồng ý với bản án sơ thẩm vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Bị đơn chị Phạm Thị G và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Hữu C vẫn giữ nguyên ý kiến tại cấp sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:

    Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

    Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân Hàng N, bị đơn chị Phạm Thị G, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Hữu C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị T yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng; Ngân Hàng N yêu cầu tất toàn hợp đồng vay, thế chấp tài sản nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngân Hàng N, chị Phạm Thị G, anh Bùi Hữu C không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T1 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của Ngân Hàng N; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và bà Đ là hợp đồng vô hiệu do các bên không chứng minh được việc chuyển nhượng (giao tiền, giao đất) vì thực tế đất vẫn do gia đình bà T quản lý. Đồng thời, hợp đồng chuyển nhượng chưa đúng theo quy định về các thành viên hộ ông H ký tên, có dấu hiệu lừa dối. Do đó, xác định đây là giao dịch giả tạo, không có thật và là giao dịch dân sự vô hiệu, các giao dịch phát sinh theo sau giao dịch này đều vô hiệu.

  • Đối với yêu cầu chị G và anh C phải liên đới trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 1.245.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 17.689.000 đồng và có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đến khi trả nợ xong. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm chị G và anh C đồng ý trả nợ theo toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp.
  • Đối với yêu cầu trường hợp chị G và anh C không trả nợ thì phát mại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 để thu hồi nợ vay. Xét thấy, khi cho vay Ngân hàng không cung cấp được hồ sơ thẩm định đối với tài sản thế chấp, cán bộ thẩm định chưa làm hết trách nhiệm của mình, không xác minh làm rõ vị trí đất, ai đang sử dụng phần đất này. Đồng thời, thời điểm Ngân hàng cho chị G và anh C vay tiền là ngày 17/01/2024 thì Tòa án đã thụ lý vụ án và 02 thửa đất thế chấp thuộc trường hợp đất đang có tranh chấp. Đây là lỗi chủ quan của phía Ngân hàng nên trong trường hợp này Ngân hàng không thuộc trường hợp ngay tình.

[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của chị Phạm Thị G, anh Bùi Hữu C yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T Hội đồng xét xử xét thấy, hai thửa đất số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51 là tài sản chung của vợ chồng bà T và ông H. Khi kí kết hợp đồng chuyển nhượng cho bà Đ thì chỉ có ông H ký tên và không có ý kiến của bà T do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng chưa có căn cứ rõ ràng và việc chuyển nhượng có dấu hiệu lừa dối, chưa tuân thủ theo quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên hợp đồng giữa ông H và bà Đ là giao dịch dân sự vô hiệu. Do hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H và bà Đ vô hiệu nên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Đ với anh C cũng là giao dịch dân sự vô hiệu. Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện bà T có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Đ và anh C nên việc xử lý hợp đồng vô hiệu là phù hợp.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân Hàng N; chị Phạm Thị G và anh Bùi Hữu C.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 269/2024/DS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Ngân Hàng N, chị Phạm Thị G, anh Bùi Hữu C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3, 9 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân Hàng N; Chị Phạm Thị G và anh Bùi Hữu C;
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 269/2024/DS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười;

* Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T.
    • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/3/2022 giữa ông Phan Thanh H với bà Nguyễn Thị Đ là giao dịch dân sự vô hiệu.
    • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/3/2022 giữa bà Nguyễn Thị Đ với anh Bùi Hữu C là giao dịch dân sự vô hiệu.
    • Bà T được quyền sử dụng phần đất ở tại nông thôn diện tích đo đạc thực tế 81m², trong phạm vi các mốc M1, M2, M5, M6 trở về mốc M1, thuộc thửa số 63, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Bùi Hữu C vào ngày 07/4/2022.
    • Bà T được quyền sử dụng phần đất ở tại nông thôn diện tích đo đạc thực tế 81m², trong phạm vi các mốc M2, M3, M4, M5 trở về mốc M2, thuộc thửa số 65, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Bùi Hữu C vào ngày 07/4/2022.
    • Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Đ và anh C để cấp quyền sử dụng đất lại cho bà T.
    • Bà T, bà Đ và anh C được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
    • Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2023 của Tòa án và Sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023 của Công ty TNHH D1.
  2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
    • Công nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng N với chị Phạm Thị G và anh Bùi Hữu C. Chị G và anh C đồng ý liên đới trả lại cho Ngân hàng số tiền còn nợ vay gốc là 1.245.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 17.689.000 đồng; Tổng cộng là 1.262.689.000 đồng (Một tỷ, hai trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm tám mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6505LAV202400497 ngày 17/01/2024 cho đến khi trả xong nợ.
    • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với yêu cầu trong trường hợp chị G và anh C không trả nợ thì phát mại tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 63 và 65, cùng tờ bản đồ số 51 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 để thu hồi nợ vay. Đồng thời, tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 07321/HĐTC ngày 22/4/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01-07321/HĐTC ngày 16/01/2024 giữa Ngân hàng với chị G và anh C là giao dịch dân sự vô hiệu.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Đ phải chịu 3.980.000 đồng (Ba triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá. Đối với số tiền này bà T đã tạm ứng trước nên bà Đ phải có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho bà T.
  4. Về án phí:
    1. Về án phí sơ thẩm:
      • Bà T được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
      • Bà Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      • Ngân hàng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 46.985.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, chín trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010772, ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi khấu trừ thì hoàn trả cho Ngân hàng số tiền chênh lệch là 46.685.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
      • Chị G và anh C phải liên đới chịu 49.881.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, tám trăm tám mươi mốt nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào biên lai tạm ứng án phí số 0011381 ngày 24/10/2024. Chị Phạm Thị D1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào biên lai tạm ứng án phí số 0011376 ngày 24/10/2024. Anh Bùi Hữu C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào biên lai tạm ứng án phí số 0011377 ngày 24/10/2024.
    3. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐ-KT TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 123/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy quyết định cá biệt, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger