|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/DS-ST Ngày 20 tháng 9 năm 2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Trường Hận.
- Ông Võ Minh Sơn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST – DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 115A/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ2 (B1). Trụ sở: Tháp BIBV, số A, đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Nhật T1 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ2, chi nhánh B2 (theo văn bản ủy quyền số 963/QĐ-BIBV ngày 25/10/2021). Địa chỉ chi nhánh: Số A, đường B, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Bà Nguyễn Thị Nhật T1 ủy quyền lại cho ông Diệp Minh C – Phó Phòng Khách hàng cá nhân; ông Trần Minh Đ – Chuyên viên QLKH – Phòng KHCN (theo văn bản ủy quyền số 653/QĐ-BIBV.BL ngày 10/5/2024). (có mặt)
- Đồng bị đơn: Ông Lương Minh H, sinh năm 1979 và bà Hồ Thị X, sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: Số E, đường Bà T2, Khóm A, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Số A, đường B, Khóm A, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/. Bà Lương Minh Đ1, sinh năm 1953; Nơi ĐKHKTT: Số A, đường Q, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Số A, đường B, Khóm A, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
2/. Ông Bùi Hồng P, sinh năm 1983 và bà Phan Thị Tuyết D, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A, đường Q, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Diệp Duy C1, là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ2 – do Ngân hàng Đ2, chi nhánh B2 (sau đây gọi tắt là ngân hàng) với ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X có ký kết các hợp đồng gồm:
- Hợp đồng tín dụng (áp dụng đối với khoản vay theo món khách hàng bán lẻ) số 0593/2023/4760550/HĐTD, ngày 12/4/2023 với thỏa thuận như sau: Hạn mức cho vay: 800.000.000 đồng (T3 trăm triệu đồng); Thời hạn vay là 60 tháng; Hình thức vay: Vay món có tài sản bảo đảm; Lãi suất vay trong hạn là 12,2%/năm (áp dụng đến ngày 30/6/2023) và sau đó được điều chỉnh định kỳ vào ngày 01/01 và ngày 01/7 hằng năm theo thông báo lãi suất cho vay của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn áp dụng đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (Lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có) tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên số dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; L chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua sắm vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân và gia đình. Ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X đã nhận nợ với số tiền 800.000.000 đồng theo Bảng kê rút vốn số 0593.01/2023/4760550/HĐTD ngày 12/4/2023.
- Hợp đồng tín dụng (áp dụng đối với khoản vay theo món khách hàng bán lẻ) số 0528/2022/4760550/HĐTD, ngày 01/4/2022 với thỏa thuận như sau: Hạn mức cho vay: 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng); Thời hạn vay là 60 tháng; Hình thức vay: Vay món có tài sản bảo đảm; Lãi suất vay trong hạn là 10,3%/năm (áp dụng đến ngày 30/6/2022) và sau đó được điều chỉnh định kỳ vào ngày 01/01 và ngày 01/7 hằng năm theo thông báo lãi suất cho vay của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn áp dụng đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (Lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có) tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên số dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; L chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua sắm vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân và gia đình. Ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X đã nhận nợ với số tiền 900.000.000 đồng theo Bảng kê rút vốn số 0528/2022/4760550/HĐTD ngày 04/4/2022.
Để bảo đảm cho cho khoản vay trên, Ngân hàng và ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X và bà Lương Minh Đ1 có ký kết Hợp đồng thế chấp gồm:
- Hợp đồng thế chấp bất động sản số 117/2019/4760550/HĐBĐ, ngày 30/01/2019, tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 107,6m², thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 26, diện tích xây dựng 70,5m², diện tích sàn 70,5m², nhà và đất tọa lạc tại số A, hẻm T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và các tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 926362, do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bà Lương Minh Đ1 vào ngày 20/01/2016.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 0212/2022/4760550/HĐBĐ, ngày 01/4/2022, tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 80m², thuộc thửa đất số 1927 (nay là thửa 132), tờ bản đồ số 3 (nay là tờ bản đồ 15), đất tọa lạc tại đường số A, KDC T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và các tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 007025, do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bà Nguyễn Tuyết T4, ông Nguyễn Hùng C2 vào ngày 07/4/2017. Ngày 05/9/2017, được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, chỉnh lý biến động chuyển nhượng lại cho ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X.
Từ ngày 08/11/2023, ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thanh toán cho ngân hàng những khoản tiền lãi hàng tháng như thỏa thuận của Hợp đồng cấp tín dụng nên ngân hàng đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ chưa thanh toán của các giấy nhận nợ trên và chuyển sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 20/9/2024, tổng số tiền mà ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X còn nợ ngân hàng là: 1.512.997.530 đồng, trong đó: nợ vốn gốc: 1.369.949.212 đồng; nợ lãi trong hạn: 133.136.330 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.963.702 đồng, lãi chậm trả: 5.948.286 đồng.
Ngân hàng yêu cầu ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X phải trả toàn bộ số tiền nợ trên cho ngân hàng và phải tiếp tục trả lãi quá hạn từ ngày 21/9/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và các Bảng kê rút vốn.
Trường hợp phía ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X không trả được nợ thì ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ.
* Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 19/7/2024, ông Lương Minh H là bị đơn trình bày: Ông đồng ý với ngân hàng là giữa ông, bà X và bà Lương Minh Đ1 có ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản như phía ngân hàng trình bày là đúng. Ông thừa nhận còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc còn thiếu tính đến ngày 19/7/2024 là 1.369.949.212 đồng, đối với phần nợ lãi/phí là 117.051.458 đồng thì ông chưa nắm được, ông sẽ tính lại. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông xin được trả dần số nợ trên, mỗi tháng trả 12.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp, ông và bà Hồ Thị X không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ông, bà X và bà Đ1 đồng ý để Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: Diện tích đất 107,6m², thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 26, diện tích xây dựng 70,5m², diện tích sàn 70,5m², nhà và đất tọa lạc tại số A, hẻm T, đường B, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số CD 926362, do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, cấp ngày 20/01/2016 cho bà Lương Minh Đ1 và diện tích đất 80m², thuộc thửa đất số 1927 (nay là thửa 132), tờ bản đồ số 3 (nay là tờ bản đồ 15), đất tọa lạc tại đường số A, KDC T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số CI 007025, do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, cấp ngày 07/4/2017 để ngân hàng thu hồi nợ.
* Bà Hồ Thị X là bị đơn và bà Lương Minh Đ1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho bà X và bà Đ1 nhưng bà X, bà Đ1 không đến Tòa án để giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
* Theo biên bản lấy lời khai ngày 24/7/2024 ông Bùi Hồng P, bà Phan Thị Tuyết D là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông P là con ruột bà Đ1 và em ruột của ông H, bà D là vợ của ông P. Do ông bà không có nơi ở nên bà Lương Minh Đ1 cho ông bà ở nhờ trên phần đất thế chấp tại số A, đường Q, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, nay ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X vay tiền ngân hàng thì phải có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng khoản tiền nêu trên. Trong trường hợp ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X không thanh toán được nợ thì ông bà đồng ý để ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Ngoài ra ông bà không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc yêu cầu ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X trả khoản nợ gốc là 20.000.000 đồng; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc yêu cầu ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X trả khoản nợ vay tính đến ngày 20/9/2024 là 1.512.997.530 đồng, trong đó: nợ vốn gốc: 1.369.949.212 đồng; nợ lãi trong hạn: 133.136.330 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.963.702 đồng, lãi chậm trả: 5.948.286 đồng và tiền lãi nợ quá hạn phát sinh theo hợp đồng từ ngày 21/9/2024 cho đến khi ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X thanh toán xong nợ. Trường hợp ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X không thanh toán được nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định để ngân hàng thu hồi nợ. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 0593/2023/4760550/HĐTD và Hợp đồng tín dụng số 0528/2022/4760550/HĐTD đã ký kết theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X có nơi cư trú hiện nay tại ở thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
[1.1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[1.2] Xét về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có quyền rút một phần yêu cầu khởi kiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả khoản nợ gốc là 20.000.000 đồng.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số 0593/2023/4760550/HĐTD, ngày 12/4/2023 và Hợp đồng tín dụng số 0528/2022/4760550/HĐTD, ngày 01/4/2022 thấy rằng: Các hợp đồng có hình thức, nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định về về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Đ2, về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, về chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ được quy định tại Điều 100, Điều 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, nên các hợp đồng này có hiệu lực.
[2.2] Xét về việc thực hiện Hợp đồng tín dụng số 0593/2023/4760550/HĐTD, ngày 12/4/2023 và Hợp đồng tín dụng số 0528/2022/4760550/HĐTD, ngày 01/4/2022: Nguyên đơn trình bày bị đơn đã nhận số tiền vốn vay là 1.700.000.000 đồng theo các Bảng kê rút vốn ngày 04/4/2022 (số tiền 900.000.000 đồng), Bảng kê rút vốn ngày 12/4/2023 (số tiền 800.000.000 đồng). Xét các bảng kê rút vốn đều được ông Lương Minh H ký tên và ghi rõ họ tên của mình theo đúng quy định pháp luật nên có cơ sở xác định bị đơn đã nhận đủ số tiền vay là 1.700.000.000 đồng. Từ ngày 08/11/2023, do bị đơn vi phạm việc trả nợ theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng nên khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn. Hiện nay, bị đơn còn nợ lại nguyên đơn tổng số nợ tính đến ngày 20/9/2024 là 1.512.997.530 đồng, trong đó: nợ vốn gốc: 1.369.949.212 đồng; nợ lãi trong hạn: 133.136.330 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.963.702 đồng, lãi chậm trả: 5.948.286 đồng, bị đơn cũng thừa nhận nội dung này nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận ý kiến này của nguyên đơn.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ là 1.512.997.530 đồng, trong đó: nợ vốn gốc: 1.369.949.212 đồng; nợ lãi trong hạn: 133.136.330 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.963.702 đồng, lãi chậm trả: 5.948.286 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi, chi phí phát sinh tính theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 21/9/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng, thấy rằng: Căn cứ Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 0593/2023/4760550/HĐTD, ngày 12/4/2023 và Hợp đồng tín dụng số 0528/2022/4760550/HĐTD, ngày 01/4/2022 quy định việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Vì vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền còn nợ là 1.512.997.530 đồng, trong đó: nợ vốn gốc: 1.369.949.212 đồng; nợ lãi trong hạn: 133.136.330 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.963.702 đồng, lãi chậm trả: 5.948.286 đồng, bị đơn cũng thừa nhận các khoản vay theo hợp đồng tín dụng và thừa nhận các ý kiến của Ngân hàng trình bày là đúng nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Đồng thời căn cứ nội dung các Hợp đồng đã ký kết thì ông H, bà X phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn theo nội dung thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký với Ngân hàng.
[3] Xét Hợp đồng thế chấp bất động sản số 117/2019/4760550/HĐBĐ, ngày 30/01/2019, tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 107,6m², thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 26, diện tích xây dựng 70,5m², diện tích sàn 70,5m², nhà và đất tọa lạc tại số A, hẻm T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và các tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 926362, do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bà Lương Minh Đ1 vào ngày 20/01/2016. Qua xem xét thẩm định tại chỗ đất thế chấp hiện trạng trên đất có 01 căn nhà ở loại IV, có kết cấu cột thép và cột bê tông, tường xây gạch ống bao che cao 1 mét, phía trên đóng vách tole và một phần tường xây gạch ống phía sau bao che cao khoảng 4,5 mét, nền gạch bông, trần đóng thạch cao, cửa sắt kéo, mái lợp tole. Phía trước nhà có hàng rào xây gạch ống cao 1,6 mét, phía trên có lưới B40, mái lợp tole, diện tích xây dựng là 70,5m², diện tích sàn là 70,5m², hiện đang do ông Bùi Hồng P, bà Phan Thị Tuyết D đang quản lý sử dụng. Hiện trạng thực tế của thửa đất nêu trên không thay đổi gì so với thời điểm thế chấp (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024)
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 0212/2022/4760550/HĐBĐ, ngày 01/4/2022, tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 80m², thuộc thửa đất số 1927 (nay là thửa 132), tờ bản đồ số 3 (nay là tờ bản đồ 15), đất tọa lạc tại đường số A, KDC T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và các tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 007025, do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bà Nguyễn Tuyết T4, ông Nguyễn Hùng C2 vào ngày 07/4/2017. Ngày 05/9/2017, được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, chỉnh lý biến động chuyển nhượng lại cho ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X. Qua xem xét thẩm định tại chỗ đất thế chấp hiện trạng trên đất đang được bỏ trống, do ông H, bà X đang quản lý sử dụng, không có công trình gì trên đất. Hiện trạng thực tế của thửa đất nêu trên không thay đổi gì so với thời điểm thế chấp. (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024)
Thấy rằng: Hợp đồng thế chấp đã được ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X và bà Lương Minh Đ1 đã ký tên, được công chứng và có đăng ký thế chấp với cơ quan có thẩm quyền nên về hình thức và nội dung là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Hợp đồng thế chấp bất động sản số 117/2019/4760550/HĐBĐ, ngày 30/01/2019 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 0212/2022/4760550/HĐBĐ, ngày 01/4/2022 có hiệu lực.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán nợ đầy đủ cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp và các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ. Thấy rằng: Các Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, đồng thời đối với các tài sản thuộc quyền sở hữu của bị đơn gắn liền với quyền sử dụng đất thế chấp chưa được chứng nhận quyền sở hữu nhưng căn cứ vào Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quy định về Tài sản thế chấp bao gồm “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất...” nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần này.
[4] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.050.000 đồng. Ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 đã dự nộp 1.050.000 đồng nên ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X phải hoàn lại cho ngân hàng 1.050.000 đồng.
[6] Về án phí:
- Ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 1.512.997.530 đồng nên phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 57.389.926 đồng.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 đã nộp 28.172.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002780 ngày 30/5/2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 được hoàn lại toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 2 Điều 71; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 100; Điều 103; điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 đối với ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X về việc yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
2/. Buộc ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X cùng có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 số tiền nợ là 1.512.997.530 đồng (Một tỷ, năm trăm mười hai triệu, chín trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi đồng), bao gồm: Nợ vốn gốc: 1.369.949.212 đồng (Một tỷ, ba trăm sáu mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm mười hai đồng); Nợ lãi trong hạn: 133.136.330 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu, một trăm ba mươi sáu nghìn, ba trăm ba mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 3.963.702 đồng (Ba triệu, chín trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm lẻ hai đồng), L chậm trả: 5.948.286 đồng (Năm triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng).
3/. Kể từ ngày 21/9/2024 ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
4/. Trường hợp ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X không thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá các tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm:
- - Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 80m², thuộc thửa đất số 1927 (nay là thửa 132), tờ bản đồ số 3 (nay là tờ bản đồ 15), đất tọa lạc tại đường số A, KDC T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 007025, do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bà Nguyễn Tuyết T4, ông Nguyễn Hùng C2 vào ngày 07/4/2017. Ngày 05/9/2017, được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, chỉnh lý biến động chuyển nhượng lại cho ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X. Qua xem xét thẩm định tại chỗ đất thế chấp hiện trạng trên đất đang được bỏ trống, do ông H, bà X đang quản lý sử dụng, không có công trình gì trên đất.
- - Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích đất 107,6m², thuộc thửa đất số 247, tờ bản đồ số 26, diện tích xây dựng 70,5m², diện tích sàn 70,5m², nhà và đất tọa lạc tại số A, hẻm T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 926362, do UBND thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bà Lương Minh Đ1 vào ngày 20/01/2016. Qua xem xét thẩm định tại chỗ đất thế chấp hiện trạng trên đất có 01 căn nhà ở loại IV, có kết cấu cột thép và cột bê tông, tường xây gạch ống bao che cao 1 mét, phía trên đóng vách tole và một phần tường xây gạch ống phía sau bao che cao khoảng 4,5 mét, nền gạch bông, trần đóng thạch cao, cửa sắt kéo, mái lợp tole. Phía trước nhà có hàng rào xây gạch ống cao 1,6 mét, phía trên có lưới B40, mái lợp tole, diện tích xây dựng là 70,5m², diện tích sàn là 70,5m², hiện đang do ông Bùi Hồng P, bà Phan Thị Tuyết D đang quản lý sử dụng.
Buộc ông Bùi Hồng P, bà Phan Thị Tuyết D giao lại nhà và đất tại số A, hẻm T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho bà Đ1 khi cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ.
(Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu)
5/. Về án phí: Ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 57.389.926 đồng (Năm mươi bảy triệu, ba trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm hai mươi sáu đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 không phải chịu án phí, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 28.172.000 đồng (Hai mươi tám triệu một trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tại biên lai thu số 0002780 ngày 30/5/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.
6/. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 đã dự nộp số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) nên ông Lương Minh H và bà Hồ Thị X phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
7/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8/. Về kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lương Minh H, bà Hồ Thị X, bà Lương Minh Đ1, ông Bùi Hồng P, bà Phan Thị Tuyết D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TỌA PHIÊN TÒA |
THẨM PHÁN-CHỦ |
|
Bùi Công B |
|
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Võ Minh Sơn |
Bùi Công Bằng |
|
Lê Trường Hận |
|
11
Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 123/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cháp nhận
