|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN Bản án số: 123/2025/DS-PT Ngày 14-02-2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phúc
Các Thẩm phán: Ông Đặng văn Những
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 678/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 693/2024/QĐ-PT ngày 26/12/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Số F C, khu phố B, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An.
- Bị đơn gồm:
- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1965;
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1965;
Cùng địa chỉ: B đường T - T, khu phố B, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An.
Ông Lê Văn T1 uỷ quyền cho bà Trần Thị M (theo giấy uỷ quyền lập ngày 19/6/2024). (bà M có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, gồm:
- Bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1958.
- Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1996.
- Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1966.
- Ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1968.
- Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1971.
- Bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1973.
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1952.
Cùng địa chỉ: Khu phố C, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An.
(Bà T3, bà L, ông H, ông Đ, ông C, bà T3, bà Nguyễn Thị M1 có đơn đề nghị vắng mặt).
- Ông Võ Đức T4, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: bị đơn bà Trần Thị M
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T và phần trình bày của ông T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau:
Ông Nguyễn Thanh T có thửa đất tọa lạc Phường C, thị xã K (trước đây thuộc ấp C, xã T, huyện M). Nguồn gốc đất của ông bà là Nguyễn Văn N và Phan Thị T5 (đã chết) để lại cho ông T sử dụng từ trước năm 1996, việc cho đất bằng lời nói vì khi đó ông bà chưa được cấp giấy chứng nhận. Năm 1998 ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không qua đo đạc có số thửa 755 tờ bản đồ số 7 diện tích là 27.545m².
Sau khi được cho đất, ông T trồng tràm đến năm 1996 thì phá tràm để trồng lúa; khoảng năm 2000 ông T cho vợ chồng Võ Thị Bích T6, Trần Văn B (tên thường gọi là Đ1) mượn đât làm lúa khoảng 03 năm, sau đó cho ông Võ Đức T4 thuê để trồng lúa đến nay.
Đất của ông T giáp ranh với thửa số 1372, tờ bản đồ số 7 của bà Trương Thị É và con trai là Đỗ Văn S (bà É và ông S đã chết). Trong quá trình hai bên sử dụng đất, ông T và ông S có thống nhất ranh giới là bờ ruộng rộng từ khoảng 01m đến 1,2m có cắm trụ xi măng ở đầu thửa đất, hiện nay vẫn còn và nằm trên bờ ruộng tại vị trí giáp ranh giữa đất của ông T, ông S và ông Đỗ Thành B1 (góc phía Tây thửa đất của ông T và ông S), ngoài ra đất của ông T còn có một trụ xi măng làm ranh nhưng giáp với đất của người khác (trước đây nhầm lẫn nên ông T trình bày giáp với đất ông S). Năm 2007 vợ chồng ông T1, bà M nhận chuyển nhượng thửa đất số 1372 của bà É và ông S, theo ông T biết là chuyển nhượng theo hồ sơ, các bên có kiểm tra trên thực địa và biết rõ diện tích đất chỉ hơn 05 công (tức 5.000m²) chứ không phải hơn 07 công như trong giấy.
Năm 2019 ông T1 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ số thửa 1372 thành thửa số 22 tờ bản đồ số 1, có đo đạc hay không thì ông T không biết vì không thông báo cho ông T biết để chứng kiến và thống nhất ranh đất.
Năm 2022 ông T và ông T1 thoả thuận miệng thống nhất cắm thêm trụ xi măng ở đoạn giữa của bờ đất, hiện nay vẫn còn, sự việc có ông Võ Đức T4 chứng kiến vì ông T4 đang thuê ruộng của ông T.
Năm 2023, ông T làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có tiến hành đo thì phát hiện một phần đất của ông T có diện tích khoảng 1.348m² nằm trong số thửa đất 1372 (nay có số thửa mới là 22) cấp cho ông T1 và bà M. Ông T và ông T1 đã thương lượng nhưng không thành.
Theo mảnh trích đo địa chính số 33-2024 thì phần đất tranh chấp có diện tích là 1.472,4m², phần đất này của ông T cho ông T4 thuê làm khoảng 20 năm nay. Ngoài ra theo mảnh trích đo thì thửa đất số 755 của ông T có diện tích tăng hơn so với diện tích được cấp giấy năm 1998 có thể là do quá trình sử dụng khai hoang mở rộng phía hầm đất và đường nước ở phía Đông, phía Tây chứ không lấn chiếm đất của vợ chồng ông T1 vì đã có bờ ruộng.
Vì phần đất diện tích 1.472,4m² là của ông T nhưng lại được cấp trong giấy cho bà É và ông S, rồi chuyển nhượng cho ông T1 và bà M nên ông T khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M ký năm 2007 đối với diện tích 1.472,4m² thuộc một phần thửa số 1372, tờ bản đồ số 7 tại xã T, huyện M (nay là khu phố C, Phường C, thị xã K). Ông T yêu cầu xác định phần đất diện tích 1.472,4 m² nêu trên thuộc quyền sử dụng đất của ông T. Ngoài ra ông T không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu.
Ông T không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà Trần Thị M yêu cầu ông T trả đất diện tích 1.472,4 m². Vì bờ ranh giữa đất ông T với đất của ông Đỗ Văn S là chủ đất cũ bán cho vợ chồng ông T1 vẫn còn.
Bị đơn ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể như sau:
Thửa đất số 1372, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã T, huyện M nay có số thửa mới là 22 tờ bản đồ số 1 tọa lạc khu phố C, Phường C, thị xã K là của vợ chồng ông T1, bà M mua của bà Trương Thị É và ông Đỗ Văn S vào năm 2007, ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng với diện tích 7.200m²; việc mua bán theo hồ sơ không đo đạc. Khi mua đất là mùa nước ngập nên không thấy được ranh với bên ông T mà chỉ thấy đám cây tạp, sau này ông T đã khai phá làm từ khi nào thì không rõ. Thửa đất 1372 khi mua đất đúng là có 02 cọc ranh nhưng ở vị trí giáp ranh với chủ đất khác, còn giáp với đất của ông T có cọc hay không thì không biết. Từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay, vợ chồng bà M với ông T không có thỏa thuận cắm cột mốc như ông T trình bày, các cột mốc hiện có trên bờ ruộng là do ông T tự cắm.
Sau khi mua đất, vợ chồng bà M cho người khác thuê để trồng lúa, cụ thể: Từ tháng 12/2007 đến tháng 8/2010 cho con của bà Nguyễn Thị H1 thuê; từ tháng 10/2010 đến tháng 8/2011 cho vợ chồng bà Võ Thị Bích T6, ông Trần Văn B (tên thường gọi là Đ1) thuê; từ năm 2012 đến nay cho bà Nguyễn Thị M1 thuê.
Đúng là trước đây ông T1 dự định bán đất cho ông Nguyễn Cao H2 nhưng chỉ mới trao đổi chứ chưa bán và cũng không đo diện tích đất cụ thể bao nhiêu.
Vợ chồng bà M1 mua đất của bà É, ông S là mua nguyên thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không rõ ranh đất. Năm 2019 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa 1372 thành thửa số 22 có diện tích 7.187,3m² thì cơ quan có thẩm quyền có đo đạc hay không ông bà không rõ. Ông bà không biết phần đất mà ông T cho ông T4 thuê là đã cấp trong giấy của ông bà, trước đây ông T yêu cầu ông bà tách giấy ra cho ông T thì ông bà không đồng ý vì đất đã được cấp giấy cho ông bà.
Ngoài ra, thửa đất số 755 của ông T được cấp theo giấy có diện tích là 2.7545m² nhưng nay đo đạc thì diện tích tăng lên nhiều, đề nghị Toà án xem xét.
Hợp đồng mua bán đất của vợ chồng bà M1 với bà É, ông S1 là đúng quy định pháp luật nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T về vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đang tranh chấp là 1.472,4m² thuộc một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 1, tọa lạc khu phố C, Phường C. Nếu trường hợp Toà án có vô hiệu đối với phần diện tích đất này thì vợ chồng bà M1 không yêu cầu xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng trong vụ án này, bà É đã chết nên các con của bà É phải chịu trách nhiệm nhưng sẽ yêu cầu sau.
Bà Trần Thị M có yêu cầu khởi kiện phản tố yêu cầu ông Nguyễn Thanh T trả toàn bộ phần diện tích đất lấn chiếm là 1.472,4m² thuộc một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 1, tọa lạc khu phố C, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An vì phần đất này ông T1 và bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay thửa đất số 22 không thế chấp hay cầm cố cho ai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Đức T4 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa như sau:
Vào khoảng năm 2003 (không nhớ chính xác năm) ông T4 thuê đất ruộng của ông Nguyễn Thanh T tọa lạc tại ấp C, xã T (nay là khu phố C, Phường C, thị xã K) để trồng lúa cho đến nay, việc thuê ruộng bằng lời nói, trả tiền thuê hàng năm.
Từ khi ông T4 thuê ruộng của ông T thì đất vẫn còn giáp với ruộng của mẹ con bà É, ông S bằng một bờ đất (bờ ruộng), đoạn giữa bờ có bụng cong. Thời điểm đó ông T4 đã thấy có 02 trụ xi măng ở hai đầu bờ, ông T4 có nghe nói đây là ranh đất của ông T với đất bên ông S. Sau này vợ chồng ông T1 mới mua đất của bà É, ông S rồi cho người khác thuê trồng lúa. Thời điểm đó bờ đất này có chiều rộng khoảng 05 đến 06m có cây mắt mèo mọc trên bờ, ông T1 cho bà Nguyễn Thị M1 thuê đất trồng lúa thì bà M1 đã phá vô bờ nên hiện trạng bờ còn chiều ngang khoảng hơn 01m như hiện nay. Ông T4 xác định không phá thêm vô bờ vì cọc xi măng ở đầu thửa đất vẫn còn, ông T4 không lấn qua.
Vì đoạn giữa của bờ ruộng có bụng cong về phía đất của ông T1, năm 2022 ông T4 có chứng kiến ông T và ông T1 thống nhất cắm trụ xi măng ở đoạn giữa bờ, ông T1 còn đề nghị nắn chỉnh lại bờ cho bớt cong và giựt vô đất của ông T, tức có lợi cho ông T1.
Còn lý do đất của ông T có tăng lên về diện tích là vì khi thuê đất, ông T4 có khai phá thêm phần bờ hầm và phần đường nước ở phía Tây của thửa đất. Nếu cần thiết, đề nghị Toà án xác minh trừ phần diện tích phá thêm này ra thì sẽ tính được diện tích đất còn lại của ông T có lấn qua đất của bà M1, ông T1 hay không.
Năm 2023 ông T4 vét lại đường nước dọc theo bờ đất để cấp thoát nước làm ruộng. Vị trí đường nước là bên trong bờ ruộng của ông T cho ông T4 thuê, đường nước trước đây đã có nên ông T4 chỉ vét lại.
Ông T4 xác định trong quá trình thuê đất của ông T và làm ruộng ở đây ông T4 không làm thay đổi vị trí bờ ruộng, không phá vô bờ vì cột mốc xi măng trên bờ vẫn còn. Đề nghị Toà án cho mời bà Nguyễn Thị M1 là người thuê ruộng của vợ chồng ông T1 đến Toà án để đối chất về việc sử dụng đất.
Ông T4 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông T, ngoài ra không có yêu cầu gì khác, ông T4 không tranh chấp gì về thoả thuận thuê đất ruộng giữa ông với ông T. Nếu sau này Toà án xét xử xác định phần đất này của ai thì ông T4 sẽ chấp hành theo quyết định của Toà án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M1 vắng mặt, có ý kiến trình bày ngày 18/7/2024 như sau: Cách nay hơn 10 năm, bà Nguyễn Thị M1 có thuê thửa đất ruộng tọa lạc tại khu phố C, Phường C, thị xã K (không rõ số thửa) của vợ chồng ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M để trồng lúa. Khi thuê đất thì không nói rõ diện tích, thời điểm đó đất nhiều cỏ bà M đã phá cải tạo mới được như hiện nay. Việc thuê đất bằng lời nói, trả tiền thuê hàng năm, mỗi năm trả 6.000.000 đồng. Từ trước đến nay bà M sử dụng đất thuê theo bờ ranh như hiện tại, không thấy ai lấn đất của ai. Việc tranh chấp đất giữa ông Nguyễn Thanh T với ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M như thế nào thì bà M không rõ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Lê Thị Thanh T2, bà Đỗ Thị L có văn bản đề nghị vắng mặt và có ý kiến trình bày như sau:
Bà Lê Thị Thanh T2 là vợ của ông Đỗ Văn S (ông S mất năm 2020), bà T2 và ông S có một người con chung là Đỗ Thị L.
Ông S là con của bà Trương Thị É (bà É đã mất). Cách đây trên 10 năm bà É và ông S có bán cho vợ chồng ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị Mai M2 thửa đất ruộng diện tích hơn 05 công (hơn 5.000m²) tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện M nay thuộc khu phố C, Phường C, thị xã K. Hiện trạng khi bán là đất trồng lúa có bờ bao, một bên giáp với đất của ông Nguyễn Thanh T. Trước khi bán đất thì ông S và ông T có thống nhất ranh đất, ông S là người chỉ cho ông T đắp bờ ruộng làm ranh. Bờ ranh ngày đó so với bờ ruộng hiện nay giữa bên ông T với ông T1 có thay đổi hay không thì bà T2 không rõ vì thời gian đã lâu. Khi ông S bán đất cho vợ chồng ông T1 có kéo thước đo kiểm tra diện tích bán là hơn 05 công còn diện tích được cấp theo giấy bao nhiêu thì không rõ.
Bà T2 và bà L không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án, không yêu cầu giải quyết hậu quả nếu hợp đồng mua bán đất giữa bà É, ông S với ông T1, bà M có bị tuyên vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H, ông Đỗ Văn Đ, ông Đỗ Văn C, bà Đỗ Thị T3 có văn bản đề nghị vắng mặt, có ý kiến trình bày như sau:
Bà Trương Thị É có chồng là ông Đỗ Minh T7 và có 05 người con gồm ông Đỗ Văn S, Đỗ Văn H, Đỗ Văn Đ, Đỗ Văn C, Đỗ Thị T3. Bà É, ông T7 và ông S đều đã mất (chết).
Bà É và ông S có một thửa đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện M (nay thuộc khu phố C, Phường C, thị xã K) và đã bán cho ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M cách nay đã lâu. Việc mua bán đất diện tích bao nhiêu, ranh hướng đất như thế nào thì các ông bà không biết.
Các ông bà không có tranh chấp trong vụ án này, không yêu cầu giải quyết hậu quả nếu hợp đồng mua bán đất giữa bà É, ông S với ông T1, bà M bị tuyên vô hiệu.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Trần Thị M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Thanh T đối với phần đất diện tích 1.472,4m² thuộc một phần thửa số 22, tờ bản đồ số 1 tọa lạc Phường C, thị xã K.
- Người được thi hành án, người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp) phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M phải chịu 31.500.000 đồng. Do ông Nguyễn Thanh T đã nộp tạm ứng nên ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền này cho ông T.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003102 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M có trách nhiệm liên đới nộp 300.000 đồng, ông T1 và bà M được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0003267 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Ông T1 và bà M đã nộp đủ án phí.
T8 vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 13/9/2007 giữa bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M đối với phần đất diện tích 1.472,4m² thuộc một phần thửa đất số 1372, tờ bản đồ số 7 tọa lạc xã T, huyện M (nay có số thửa mới là 22, tờ bản đồ số 1 tọa lạc Phường C, thị xã K, tỉnh Long An).
Ông Nguyễn Thanh T được quyền sử dụng đất diện tích 1.472,4m² (phần đất ký hiệu tại “Vị trí tranh chấp” theo mảnh trích đo địa chính số 33-2024 của Công ty TNHH Đ2 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 01/4/2024), vị trí đất như sau:
Đông giáp thửa 755 (nay có số thửa mới 41) dài 26,88m;
Tây là góc tiếp giáp thửa 41, 22, 28.
Nam giáp thửa 755 (nay có số thửa mới 41) dài 99,54m;
Bắc giáp thửa đất số 22 dài 33,59m.
Buộc ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M có trách nhiệm giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 22, tờ bản đồ số 1 tọa lạc Phường C, thị xã K để Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
Trường hợp bên phải thi hành án là ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền yêu cầu, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án.
Ngày 25/9/2024, bà Nguyễn Thị M1, kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An bác yêu cầu khởi kiện của ông T, chấp nhận yêu cầu khởi kiện (phản tố) của bà M1 buộc ông T trả lại cho bà M1, ông T1 diện tích 1.472,4m² thuộc thửa 1371, tờ bản đồ số 7 nay là thửa số 22 tờ bản đồ số 1 tại khu phố C, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, các đương sự không thỏa tận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Phần tranh luận:
Bà M1 có yêu cầu kháng cáo trình bày: Diện tích đất ông T tăng lên là lấn chiếm đất của bà và đất của Ủy ban nhân dân xã. Năm 2002 có đo đạc thì hình thể thửa đất ông T1 khác với hình thể thửa đất được cấp đổi năm 2007, năm 2019. Bà Nguyễn Thị M1 là người thuê đất của ông T1 không dám xác nhận đúng sự thật do bị ông T đe dọa. Lời khai của ông T4 cho rằng trước đây giữa hai thửa đất có bờ ranh 5-6m, khi bà Nguyễn Thị M1 thuê đất của bà đã phá bờ một phần bờ ranh nên chỉ còn cái bờ như hiện nay, lời khai này không đúng sự thật, bên ông T mới là người phá bờ ranh đó, một số người thuê đất không dám xác nhận sự thật ông T lấn đất của bà. Ông Tuấn A mới về công tác tại địa phương từ năm 2022-2023 nên lời trình bày của ông Tuấn A là không đúng sự thật. Ranh của bà trước đây là đường thẳng, nhưng hiện nay đã bị ông T lấn nên không còn là đường thẳng. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo và yêu cầu phản tố của bà sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông T.
Ông T trình bày: Những lời trình bày của bà M1 là hoàn toàn không đúng sự thật và không có căn cứ. ông Tuấn A về công tác tại địa phương từ năm 2002-2003 có xác nhận kèm theo, trước đây biên bản ghi năm 2022-2023 là ghi nhầm.
Ông Võ Đức T4 trình bày: Bà M1 nhận chuyển nhượng đất sau ông T, trước đây giữa ông T và chủ đất cũ (bán cho bà M1) đã xác định ranh rõ ràng, bà M1 cho rằng ông T đe dọa những người làm chứng nên họ không dám trình bày đúng sự thật là không có cơ sở vì một mình ông T không thể nào che mắt được tất cả nếu như sự việc đó sai trái. Bà M1 cho rằng ông T di dời cái bờ và lấn đất của bà M1 là hoàn toàn không có căn cứ. Vì ông Võ Đức T4 là người thuê thửa đất 755 của ông T canh tác từ năm 2003 đến nay hoàn toàn không di dời bờ ranh. Lý do diện tích đất của ông T tăng lên do khi ông T4 thuê đất của ông T có khai phá thêm phần bờ hầm và phần đường nước ở phía Tây của thửa đất. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà M1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Đơn kháng cáo của bà M1 trong hạn luật định nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thâm.
Về chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về giải quyết yêu cầu kháng cáo của bà M1 yêu cầu Tòa án cấp phúc xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bà M1 buộc ông Nguyễn Thanh T trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm 1.472.4m² thuộc thửa đất số 1371 tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 22 tờ bản đồ số 1), tọa lạc khu phố C, Phường C, thị xã K, đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông T. Xét thấy:
Quyền sử dụng đất thửa số 755, tờ bản đồ số 7 tọa lạc ấp C, xã T, huyện M nay thuộc khu phố C, Phường C, thị xã K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1998 cho ông Nguyễn Thanh T với diện tích 27.545m². Quyền sử dụng đất thửa số 1372, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại địa chỉ trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1998 cho bà Trương Thị É với diện tích 7.200m². Việc cấp giấy cho ông T, bà É thời điểm năm 1998 là cấp đại trà qua kê khai, không đo đạc thực tế. Do đó, không thể căn cứ vào diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở mà phải căn cứ vào nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, tài liệu chứng cứ và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án để xem xét.
Năm 2007 bà Trương Thị É và con trai là ông Đỗ Văn S ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M đối với thửa đất số 1372 nêu trên, việc chuyển nhượng theo hồ sơ, không đo đạc thực tế. Ngày 05/11/2007 ông T1 và bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng với diện tích 7.200m². Năm 2019, ông T1 và bà M được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án cấp đổi thực hiện trên địa bàn Phường C nên thửa 1372 đổi thành số thửa 22, tờ bản đồ số 1 với diện tích 7.187,3m². Qua xác minh của Tòa án thì hồ sơ cấp đổi không có mảnh trích đo địa chính thửa đất, không có biên bản giáp ranh đất. Ông T1 và bà M cũng trình bày khi cấp đổi không biết có đo đạc hay không; ông Nguyễn Thanh T là chủ sử dụng đất giáp ranh cũng khẳng định không biết và không tham gia chứng kiến việc kiểm tra đo đạc thửa 1372. Do đó, không đủ cơ sở để khẳng định việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1372 (thửa mới là 22) cho ông T1, bà M vào năm 2019 là có đo đạc thực tế và được sự thống nhất ranh đất của các chủ giáp ranh.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng:
Quyền sử dụng đất thửa số 1372 của bà É, ông S sử dụng đến năm 2007 thì chuyển nhượng cho ông T1 và bà M. Sau khi ông T1, bà M nhận chuyển nhượng thì cho người khác thuê trồng lúa, hiện nay người đang thuê là bà Nguyễn Thị M1. Thửa đất số 755 tờ bản đồ số 7 (hiện nay có số thửa mới là 41 tờ bản đồ số 1) là của ông Nguyễn Thanh T, theo ông T trình bày nguồn gốc đất của ông bà để lại. Ông T sử dụng đất đến khoảng năm 2000 thì cho ông Trần Văn B thuê cải tạo để trồng lúa một thời gian sau đó cho ông Võ Đức T4 thuê. Theo kết quả Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ thì phần diện tích đất tranh chấp 1.472,4m² hiện nay ông Võ Đức T4 đang trồng lúa. Ông T4 trình bày phần đất này thuộc một phần khu đất mà ông thuê của ông T đến nay khoảng 20 năm. Ông T4 sử dụng đến ranh là bờ ruộng (bờ đất) hiện hữu tiếp giáp với khu đất thuộc thửa số 22 mà bà Nguyễn Thị M1 thuê của vợ chồng ông T1.
Căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị M1 (người thuê đất ông T1, bà M1) thể hiện bà M1 đã thuê đất của vợ chồng ông T1 hơn 10 năm nay, quá trình bà M1 sử dụng đất thuê là đến bờ ruộng, không thấy ai lấn chiếm đất của ai. Lời khai của một số người làm chứng là ông Nguyễn Tuấn A, bà Nguyễn Thị H1 sinh sống gần khu đất xác định từ trước đến nay thấy ông T4 sử dụng đất thuê đến tới bờ ruộng giữa đất ông T với đất bên ông T1, bờ ruộng này có từ trước đến nay không thay đổi. Bà Nguyễn Thị Thanh T9 là vợ của ông Đỗ Văn S cũng trình bày tại thời điểm chồng bà T9 chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T1 thì kiểm tra diện tích đất thực tế khoảng hơn 5.000m².
Ngoài ra, trên bờ ruộng hiện hữu ngăn cách phần đất bà Nguyễn Thị M1 trồng lúa (thuê của vợ chồng ông T1) với phần đất ông Võ Đức T4 trồng lúa (thuê của ông T) có một số cọc xi măng. Ông T cho rằng đây là ranh đất trong đó có trụ cắm vào năm 2022 có sự thống nhất của ông T1. Bị đơn không thống nhất và cho rằng giữa các bên không có thoả thuận cắm ranh như trên, tuy nhiên trình bày của bên ông T1 khi nhận chuyển nhượng là nguyên thửa theo giấy, không rõ ranh đất đến đâu. Theo lời khai của ông Đỗ Thành B1, ông Trần Văn B (người thuê ruộng của ông T trước đây) tại góc bờ ruộng tiếp giáp giữa đất của ông T với đất của ông S có một cọc xi măng làm trụ ranh đất của ba bên, hiện nay vẫn còn nằm trên bờ ruộng ngăn cách phần đất sử dụng thực tế của ông T4 với bà Nguyễn Thị M1 là phù hợp với lời trình bày của ông T về việc trước đây (khi ông S chưa chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T1) giữa ông T và ông S có thống nhất cắm trụ ranh đất.
Như vậy, phần tranh chấp 1.472,4m² (theo mảnh trích đo số 33-2024) mặc dù được cấp vào số thửa 1372 tờ bản đồ số 7 nay là thửa 22 cho ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M do nhận chuyển nhượng từ bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S. Tuy nhiên, thực tế ông S, bà É không sử dụng phần đất này; bà É được cấp giấy là qua kê khai, không đo đạc thực tế; khi ông T1, bà M nhận chuyển nhượng đất của bà É, ông S cũng không đo đạc thực tế và không sử dụng đất này, đất này do ông T là người sử dụng và cho thuê. Nên bà É, ông S ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 1372 cho vợ chồng ông T1 bao gồm cả phần diện tích đất nêu trên là không chính xác.
Từ những nhận định trên, ông T khởi kiện yêu cầu vô hiệu phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M ký ngày 13/9/2007 đối với một phần thửa số 1372 tờ bản đồ số 7, diện tích 1.472,4m² tọa lạc ấp C, xã T, huyện M và yêu cầu xác định phần đất diện tích 1.472,4 m² nêu trên thuộc quyền sử dụng đất của ông T là có căn cứ.
Trong vụ án, các đương sự không yêu cầu xem xét hậu quả khi tuyên vô hiệu một phần hợp đồng nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M nên không xem xét.
Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị M. Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Trần Thị M trong hạn luật định nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M yêu cầu Tòa án cấp phúc xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện (phản tố) của bà M buộc ông Nguyễn Thanh T trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm 1.472,4m² thuộc thửa đất số 1371 tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 22 tờ bản đồ số 1), tọa lạc khu phố C, Phường C, thị xã K, đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông T. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2] Về nguồn gốc đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa số 755, tờ bản đồ số 7 tọa lạc ấp C, xã T, huyện M nay thuộc khu phố C, Phường C, thị xã K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1998 cho ông Nguyễn Thanh T với diện tích 27.545m². Thửa số 1372, tờ bản đồ số 7, diện tích 7.200m² tọa lạc tại địa chỉ trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho bà Trương Thị É vào năm 1998. Việc cấp giấy cho ông T, bà É thời điểm năm 1998 là cấp đại trà qua kê khai, không đo đạc thực tế. Do đó, không thể căn cứ vào diện tích đất và ranh đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án mà cần căn cứ vào quá trình sử dụng đất để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[3] Quá trình sử dụng đất: Thửa đất 755 của cha mẹ ông T sử dụng và cho lại ông T sử dụng đến năm 1998 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi được cấp giấy ông T tiếp tục sử dụng đất, đến khoảng năm 2000 cho ông Trần Văn B thuê cải tạo để trồng lúa, đến khoảng năm 2003 cho ông Võ Đức T4 thuê. Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm thì phần diện tích đất tranh chấp 1.472,4m² và thửa 755 hiện nay ông Võ Đức T4 đang trồng lúa. Ông Võ Đức T4 trình bày phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất mà ông thuê của ông T đến nay khoảng 20 năm, ông đã sử dụng đến ranh là bờ ruộng (bờ đất) hiện hữu tiếp giáp với khu đất thuộc thửa số 22 (thửa 1372) mà bà Nguyễn Thị M1 thuê của vợ chồng ông T1. Căn cứ vào lời trình bày của ông T4 (người thuê đất của ông T) và bà Nguyễn Thị M1 (người thuê đất của vợ chồng ông T1) thì cái bờ ranh này có từ trước khi ông T4 và bà M1 thuê đất, không thấy ai lấn chiếm đất của ai. Ngoài ra, lời khai của một số người làm chứng gồm ông Nguyễn Tuấn A, bà Nguyễn Thị H1 sinh sống gần khu đất xác định từ trước đến nay thấy ông T4 sử dụng đất thuê đến tới bờ ruộng giữa đất ông T với đất bên ông T1 là cái bờ ruộng này có từ trước đến nay không thay đổi.
[4] Mặt khác, trên bờ ruộng hiện hữu ngăn cách phần đất của vợ chồng ông T1 với phần đất của ông T có một số cọc xi măng. Ông T cho rằng đây là ranh đất, trong đó có trụ cắm vào năm 2022 có sự thống nhất của ông T1. Ông T1 không thừa nhận sự kiện này. Tuy nhiên, ông T1 trình bày khi nhận chuyển nhượng của bà É, ông S là chuyển nhượng nguyên thửa theo giấy, không rõ ranh đất đến đâu. Căn cứ vào lời khai của ông Đô Thành B1, ông Trần Văn B (người thuê ruộng của ông T trước đây) tại góc bờ ruộng tiếp giáp giữa đất của ông T với đất của ông S có một cọc xi măng làm trụ ranh đất của ba bên, hiện nay vẫn còn trên bờ ruộng ngăn cách phần đất sử dụng thực tế của ông T với ông T1 bà M1, chứng cứ này phù hợp với lời trình bày của ông T về việc trước đây khi ông S chưa chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T1 giữa ông T và ông S có thống nhất cắm trụ làm ranh đất.
[5] Từ những phân tích trên, có căn cứ xác định phần tranh chấp 1.472,4m² theo Mảnh trích đo số 33-2024 do ông T sử dụng từ năm 1998 đến nay, nhưng được cấp vào thửa 1372 tờ bản đồ số 7 nay là thửa 22 do ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M nhận chuyển nhượng từ bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S. Nên bà É, ông S ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 1372 cho vợ chồng ông T1 bao gồm cả phần diện tích đất nêu trên là không chính xác. Do đó, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và bác yêu cầu khởi kiện (yêu cầu phản tố) của ông T1, bà M là có căn cứ. Trong vụ án, các đương sự không yêu cầu xem xét hậu quả khi tuyên vô hiệu một phần hợp đồng nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M nên không xem xét.
[6] Bà M kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà M, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị M.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 148, 157, 165, 227, 228, 271, 273, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 166, 170, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166, điều 203 Luật Đất đai 2013, các Điều 26, 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện (phản tố) của bà Trần Thị M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Thanh T đối với phần đất diện tích 1.472,4m² thuộc một phần thửa số 22, tờ bản đồ số 1 tọa lạc Phường C, thị xã K.
- Người được thi hành án, người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp) cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M phải chịu 31.500.000 đồng. Do ông Nguyễn Thanh T đã nộp tạm ứng nên buộc ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền này cho ông T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh T được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003102 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà M đã nộp theo biên lai thu số 0002634 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
T8 vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 13/9/2007 giữa bà Trương Thị É, ông Đỗ Văn S với ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M đối với phần đất diện tích 1.472,4m² thuộc một phần thửa đất số 1372, tờ bản đồ số 7 tọa lạc xã T, huyện M (nay có số thửa mới là 22, tờ bản đồ số 1 tọa lạc Phường C, thị xã K, tỉnh Long An).
Ông Nguyễn Thanh T được quyền sử dụng đất diện tích 1.472,4m² (phần đất ký hiệu tại “Vị trí tranh chấp” theo mảnh trích đo địa chính số 33-2024 của Công ty TNHH Đ2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 01/4/2024), vị trí đất như sau:
Đông giáp thửa 755 (nay có số thửa mới 41) dài 26,88m;
Tây là góc tiếp giáp thửa 41, 22, 28.
Nam giáp thửa 755 (nay có số thửa mới 41) dài 99,54m;
Bắc giáp thửa đất số 22 dài 33,59m.
Buộc ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M có trách nhiệm giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 22, tờ bản đồ số 1 tọa lạc Phường C, thị xã K để Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
Trường hợp bên phải thi hành án là ông Lê Văn T1, bà Trần Thị M không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp) cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ông Lê Văn T1 và bà Trần Thị M có trách nhiệm liên đới nộp 300.000 đồng, ông T1 và bà M được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0003267 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Ông T1 và bà M đã nộp đủ án phí.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Phúc |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Đặng văn N1 – Nguyễn Thị Mỹ H3 |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị P |
Bản án số 123/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 123/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
