|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:123/2024/HS – ST.
Ngày: 25/11/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Kiểm.
2. Ông Nguyễn Duy Tính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Khánh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 26/3/1981; Tên gọi khác: Không; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn B1, sinh năm 1957; mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1958, hiện ở phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Đào Thị Thanh V, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014, hai con bị cáo hiện ở cùng chị Đào Thị Thanh V tại phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữtừ ngày 17/7/2024đến ngày 26/7/2024 khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở tại khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ(Có mặt).
2. Phùng Văn T1, sinh ngày 03/12/1982; Tên gọi khác: Không; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Đội 9, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Phùng Đình T2 - sinh năm
1
1954, mẹ đẻ: Tạ Thị T3 - sinh năm 1954, Bố mẹ bị cáo hiện ở đội I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Nguyễn Thị B2 - sinh năm 1982; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; Vợ và con của bị can hiện đều ở đội I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2017/HSST ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt 33 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 25/11/2019 và chấp hành xong các quyết định khác của bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 23/7/2024, Cơ quan điều tra khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 17/7/2024, tại tổ A, khu B, phường V, thành phố V Tổ công tác của Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện và kiểm tra một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Phùng Văn T1, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, T1 tự giác giao nộp cho Cơ quan Công an 01 túi nilon màu trắng bên trong có 06 gói nilon màu đen bên trong cả 06 gói nilon màu đen đều được gói bằng gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong cả 06 gói giấy đều có chứa chất bột cục màu trắng. T1 khai nhận đây là ma tuý Heroine của T1 mục đích để bán. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của T1 số tiền 500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng đã cũ, màn hình bị nứt vỡ, số IMEI 1: 862651037927511 kèm 01 sim số 0346.389.182. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong số ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 18/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà ở của Phùng Văn T1, quá trình khám xét tại nhà T1 do gia đình T1 không có ai ở nhà, cửa khoá nên không thực hiện được việc khám xét.
Đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 17/7/2024, Tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại đội I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện và kiểm tra một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, Bích tự giao nộp cho Cơ quan Công an 02 gói giấy nhỏ trong đó có 01 gói giấy mặt ngoài có chữ và hoa văn nhiều màu sắc, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng B khai nhận đây là gói ma tuý Heroin của B mục đích để bán với giá
2
1.500.000 đồng và 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng B khai nhận đây là gói ma tuý Heroin của B mục đích để bán với giá 100.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của B số tiền 220.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen đã cũ, số IMEI 1: 862211062679196 kèm 02 sim số 0975.194.508 và số 0988.729.459. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong số ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột cục màu trắng đã thu giữ của Phùng Văn T1 và Nguyễn Ngọc B.
Đối với chất bột cục màu trắng thu giữ của Phùng Văn T1, tại bản Kết luận giám định số 998/KL-KTHS ngày 21/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
"Mẫu chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 06 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,262 gam, loại Heroine”.
Hoàn trả lại 0,198 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Đối với chất bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc B, tại bản Kết luận giám định số 1000/KL-KTHS ngày 21/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
"Mẫu chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,665 gam, loại Heroine”.
Hoàn trả lại 0,468 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Tại cơ quan điều tra, lời khai ban đầu Phùng Văn T1 khai nhận về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ khi bị bắt quả tang: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 16/7/2024, Phùng Văn T1 đi đến khu công nghiệp T thuộc xã T, thành phố V gặp và hỏi mua được của một người Thiệu chỉ biết tên là M được 01 túi nilon màu trắng bên trong có 10 gói nilon màu đen, bên trong cả 10 gói nilon màu đen đều được gói bằng giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine với giá 1.500.000 đồng. Ngoài ra, T1 còn tự khai trước khi bị bắt T1 đã bán ma tuý 01 lần cho Lê Xuân C, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú: Khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ 02 gói ma tuý có đặc điểm là 02 gói nilon màu đen, trong mỗi gói nilon đều có một gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine.
Khi Tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ tại đội I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện và bắt quả tang đối với Nguyễn Ngọc B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để bán. Tại cơ quan điều tra, Bích tự khai trước đó đã bán ma tuý một lần cho T1. Cơ quan cảnh sát điều
3
tra đã tiến hành đối chất giữa Phùng Văn T1 và Nguyễn Ngọc B. Thiệu và B đã khai nhận:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 16/7/2024, Phùng Văn T1 gọi điện thoại từ số máy 0346.389.xxx của Thiệu đến số điện thoại 0975.194.xxx của Nguyễn Ngọc B hỏi mua 1.500.000 đồng tiền ma tuý hêroin. B đồng ý và bảo T1 chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản ngân hàng của B, B nhắn tin số tài khoản cho T1 số 0801000293841 của ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Ngọc B. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, do không có tài khoản ngân hàng T1 đi từ nhà đến một cửa hàng tạp hoá của chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Thiệu nhờ chị Lưu C1 số tiền 1.800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của B trong đó có 1.500.000 đồng là tiền Thiệu mua ma tuý còn 300.000 đồng là tiền Thiệu trả nợ vay B từ trước. Sau khi chuyển tiền xong T1 đi về nhà và gọi điện cho B hỏi B đã nhận được tiền chưa, B bảo đã nhận được tiền và hẹn lúc nào có ma tuý sẽ gọi cho T1. Sau đó, B một mình đi xuống khu vực chợ T6, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, B gặp và mua được của một người đàn ông chỉ biết tên là N khoảng 50 tuổi được 02 gói ma tuý có đặc điểm 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng có chữ và hoa văn nhiều màu sắc, mặt trong màu trắng, bên trong cả 02 gói giấy đều có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroin với giá 2.500.000 đồng. B cầm số ma tuý vừa mua được đi về nhà và mở 01 gói ma tuý được gói bằng gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng ra tách một phần ma tuý để sử dụng cho bản thân, số ma tuý còn lại B chia thành 10 phần và gói thành 10 gói đều có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên ngoài đều được gói bằng nilon màu đen ở bên ngoài mỗi gói, sau đó B cho cả 10 gói ma tuý vào 01 túi nilon màu trắng để bán cho T1, gói ma tuý còn lại Bích cất vào trong túi quần đang mặc.
Khoảng 18 giờ cùng ngày T1 gọi điện thoại cho B hỏi có ma tuý chưa thì B hẹn Thiệu khoảng 20 giờ ra khu vực gần trung tâm sát hạch lái xe thuộc khu công nghiệp T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để lấy ma tuý. T1 và B đến chỗ hẹn B đưa cho T1 01 túi ma tuý có đặc điểm là túi nilon màu trắng bên trong có 10 gói nilon màu đen, bên trong cả 10 gói nilon màu đen đều được gói bằng giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine. Thiệu cầm số ma tuý vừa mua được đi ra chỗ vắng người gần đó lấy 01 gói sử dụng hết cho bản thân, số ma tuý còn lại T1 cất giấu trong người rồi đi về nhà.
Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2024, T1 mang túi ma tuý đi ra khu vực nghĩa trang gần nhà, T1 lấy 01 gói ma tuý ra sử dụng hết cho bản thân còn lại 08 gói ma tuý Thiệu cất giấu trong người rồi đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày T1 đang ở nhà thì có Lê Xuân C, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú: Khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ gọi điện từ số máy 0962.548.119 đến số điện thoại của T1 hỏi mua 400.000 đồng tiền ma tuý heroin T1 đồng ý và bảo C
4
đến cổng nhà T1. Một lúc sau C đến gặp T1 đưa cho T1 400.000 đồng và được T1 đưa cho 02 gói ma tuý có đặc điểm là 02 gói nilon màu đen, trong mỗi gói nilon đều có một gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine. Chính cầm 02 gói ma tuy vừa mua được đi ra khu vực vắng người gần đó sử dụng hết cho bản thân. Sau khi bán cho C đến khoảng 13 giờ cùng ngày T1 cầm túi ma tuý bên trong có 06 gói ma tuý còn lại đi ra khu vực đường tàu thuộc tổ A, khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đứng ở ven đường mục đích để bán cho ai hỏi mua ma tuý với giá 200.000 đồng/01 gói thì bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện và bắt quả tang.
Đối với Nguyễn Ngọc B sau khi đã bán ma tuý cho T1 thì đến khoảng 20 giờ ngày 17/7/2024, B mở gói ma tuý còn lại tách một phần ma tuý gói vào gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, phần ma tuý còn lại Bích gói lại như cũ rồi đúc 02 gói ma tuý vào túi quần đang mặc đi ra khu vực gần trung tâm sát hạch lái xe thuộc khu công nghiệp T, thành phố V đứng ở ven đường mục đích có ai hỏi mua sẽ bán gói ma tuý có đặc điểm là mặt ngoài trắng có chữ và hoa văn nhiều màu sắc, mặt trong màu trắng với giá 1.500.000 đồng và gói ma tuý có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng với giá 100.000 đồng. B đứng một lúc thì bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.
Ngày 17/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với T1 và B, kết quả T1, B dương tính với chất ma tuý. Do đó, Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 và B về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt cảnh cáo.
Vật chứng và tài sản tạm giữ: 02 bì niêm phong số 998 và 1000/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng đã cũ, màn hình bị nứt vỡ, số imei 1: 862651037927511 kèm 01 sim số 0346.389.182 là điện thoại của T1 dùng để liên lạc hàng ngày và dùng để trao đổi mua, bán ma tuý đối với B và C; Số tiền 500.000 đồng trong đó có 400.000 đồng là tiền Thiệu bán ma tuý cho C mà có và 100.000 đồng là tiền của T1 do lao động mà có; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đen đã cũ, số IMEI 1: 862211062679196 kèm 02 sim số 0975.194.508 và 0988.729.459 là điện thoại của B dùng để liên lạc hàng ngày, B đã sử dụng điện thoại và số 0975.194.xxx vào việc trao đổi mua, bán ma tuý cho T1. Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Việt Trì.
Đối với số tiền 220.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền của B do lao động mà có. Ngày 19/8/2024, B đã nộp số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền B bán ma tuý cho T1 cho cơ quan điều tra.
5
Tại bản cáo trạng số 130/CT-VKS-VT ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B, Phùng Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc B và Phùng Văn T1, Đại diện VKSND thành phố Việt Trì trình bày bản luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B, bị cáo Phùng Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt chính:
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc B: Áp dụng dụng khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B mức hình phạt từ: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù đến 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024 đến ngày 26/7/2024.
Đối với bị cáo Phùng Văn T1: Áp dụng dụng khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn T4 hình phạt từ: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù đến 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung:Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Tịch thu 100.000 đồng là tiền của T1; 220.000 đồng là tiền của B.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a,b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a,b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy:01 bì niêm phong số 998/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,198 gam chất bột, cục màu trắng là ma tuý Heroine còn lại sau giám định.
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 1000/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,468 gam chất bột, cục màu trắng là ma tuý Heroine còn lại sau giám định.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ vỏ màu vàng màn hình bị nứt vỡ, số IMEI 1: 862651037927511 của Phùng Văn T1.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ vỏ màu xanh đen số IMEI 1: 862211062679196 của Nguyễn Ngọc B.
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 sim số 0346.389.182của bị cáo Phùng Văn T1; 01 sim số 0975.194.508 và 01 sim số 0988.729.459 của bị cáo Nguyễn Ngọc B.
6
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) là số tiền Nguyễn Ngọc B bán ma túy trái phép cho Phùng Văn T1.
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) là số tiền Phùng Văn T1 bán ma túy trái phép cho Lê Xuân C.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét tuyên các bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ ngày 16/7/2024, tại khu công nghiệp T thuộc xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Ngọc B có hành vi bán trái phép 10 gói ma tuý Heroine (không xác định được khối lượng) cho Phùng Văn T1 được số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, Phùng Văn T1 đã bán 02 gói ma tuý (không xác định được khối lượng) cho Lê Xuân C được số tiền 400.000 đồng. Đến hồi 14 giờ 50 phút ngày 17/7/2024, T1 bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ khối lượng 0,262 gam, loại Heroine mục đích để bán.
Hồi 20 giờ 50 phút ngày 17/7/2024, tại đội I, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Ngọc B có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,665 gam ma túy Heroine mục đích để bán thì bị Tổ công tác khác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Như vậy, Nguyễn Ngọc B phải chịu trách nhiệm hình sự về một lần bán cho Phùng Văn T1 10 gói ma tuý Heroine (không xác định được khối lượng) và
7
khối lượng 0,665 gam ma túy Heroine bị thu giữ khi bắt quả tang. Thiệu phải chịu trách nhiệm hình sự về một lần bán cho C 02 gói ma tuý Heroine (không xác định được khối lượng) và khối lượng 0,262 gam ma túy Heroine bị thu giữ khi bắt quả tang.
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việcmua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân và kiếm tiền để tiêu xài cho bản thân, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật. Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy.Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, hành vi của các bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc B và bị cáo Phùng Văn T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáoNguyễn Ngọc B có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ ma tuý với mục đích để bán vào ngày 17/7/2024, bị cáo đã khai nhận hành vi bán ma tuý cho Phùng Văn T1 vào ngày 16/7/2024 do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phùng Văn T1 có nhận thân xấu. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2017/HSST ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt 33 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 25/11/2019. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ ma tuý với mục đích để bán vào ngày 17/7/2024, bị cáo đã khai nhận hành vi bán ma tuý cho Lê Xuân C do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Ngọc B có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng khối lượng ma tuý bị cáo mua bán bị bắt quả tang nhiều hơn bị cáo T1 nên
8
cần tuyên bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly khỏi xã hội một thời gian tương xứng với mức độ hành vi mà bị cáo thực hiện nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo Phùng Văn T1 được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, khối lượng ma tuý bị cáo mua bán bị bắt quả tang ít hơn bị cáo B nhưng bị cáo T1 có nhân thân xấu nên cần áp dụng mức hình phạt tương đương với bị cáo B nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Quá trình điều tra xác minh, Cơ quan điều tra xác định bị cáo Nguyễn Ngọc B và bị cáo Phùng Văn T1 đều không có việc làm, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị. Số tiền 220.000₫ (Hai trăm hai mươi nghìn đồng) cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Ngọc B là số tiền bị cáo lao động mà có không phải tiền có được do bị cáo bán ma tuý cho T1, đây được xác định là tài sản riêng của bị cáo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là tiền cơ quan điều tra thu giữ của Phùng Văn T1 đây là số tiền bị cáo lao động mà có không phải tiền bị cáo bán ma tuý cho cho Lê Xuân C được xác định là tài sản riêng của bị cáo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với0,198gam chất bột cục màu trắng và 0,468 gam chất bột cục màu trắng là ma tuý Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định là chất ma tuý nhà nước cấm tàng trữ, mua bán và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với sim số 0346389182 kèm trong máy điện thoại di động thu giữ của Phùng Văn T1 và 02 sim số 0975194508, 0988729459 kèm trong máy điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Ngọc B3 có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ màu vàng, màn hình bị nứt vỡ, số imei 1: 862651037927511 là điện thoại của Phùng Văn T1 dùng để liên lạc hàng ngày và dùng để trao đổi mua, bán ma tuý đối với B và C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đen đã cũ, số IMEI 1: 862211062679196 là điện thoại của Nguyễn Ngọc B dùng để liên lạc hàng ngày, B đã sử dụng điện thoại vào việc trao đổi mua, bán ma tuý cho T1. Đây là phương tiện các bị cáo dùng để trao đổi, mua bán ma túynên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) B có được do bán ma tuý cho T1 và 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) Thiệu có được do bán
9
ma tuý cho Lê Xuân C đây là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng ma tuý của Nguyễn Ngọc B và Phùng Văn T1, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 và B về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt cảnh cáo là đúng quy định.
Đối với Lê Xuân C là người đã mua ma tuý của T1 nhưng C đã sử dụng hết cho bản thân Cơ quan điều tra không thu hồi được. Do đó, Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt cảnh cáo là đúng quy định.
Đối với người đàn ông tên N đã bán ma túy cho B, do B không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của B không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Đối với Nguyễn Thị Hồng L là chủ tài khoản ngân hàng mà T1 nhờ chuyển tiền để mua ma tuý của B việc T1 nhờ chuyển tiền L hoàn toàn không biết và không được hưởng lợi gì nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Phùng Hữu T5 là con trai của T1 đã đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 0346.389.xxx nhưng T5 không sử dụng số điện thoại trên. Phùng Văn T1 là người sử dụng từ khi đăng ký đến khi bị bắt nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T5.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B, bị cáo Phùng Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Hình phạt chính:
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/7/2024 đến ngày 26/7/2024.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Phùng Văn T1 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2024.
2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
10
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 220.000₫ (Hai trăm hai mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Ngọc B. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Phùng Văn T1.
(Theo biên lai thu tiền số 0004811 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 998/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,198 gam chất bột, cục màu trắng là ma tuý Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong số 1000/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,468 gam chất bột, cục màu trắng là ma tuý Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ vỏ màu vàng màn hình bị nứt vỡ, số IMEI 1: 862651037927511 của Phùng Văn T1.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ vỏ màu xanh đen số IMEI 1: 862211062679196 của Nguyễn Ngọc B.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 sim số 0346.389.182 của bị cáo Phùng Văn T1; 01 sim số 0975.194.508 và 01 sim số 0988.729.459 của bị cáo Nguyễn Ngọc B.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự TP Việt Trì).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) là số tiền Nguyễn Ngọc B bán ma túy trái phép cho Phùng Văn T1.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) là số tiền Phùng Văn T1 bán ma túy trái phép cho Lê Xuân C.
(Theo biên lai thu tiền số 0004811 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
5.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Phùng Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
11
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Trang |
12
Bản án số 123/2024/HS – ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 123/2024/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Ngoc B và đồng phạm phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
