TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HSST Ngày: 13/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thiện;
- Bà Lê Thị Thận.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Ngọc T, sinh năm 1983, tại tỉnh Tiền Giang.
Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 25/8/2022
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Trương Thị V; bị cáo có vợ và 02 người con lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến ngày 28/11/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, (có mặt).
- Bị hại: Huỳnh Tràn (đã chết)
- Đại diện theo pháp luật của người bị hại:
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1968,
Địa chỉ: Tổ D, T, S, Đà Nẵng.
- Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1993,
Địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H: Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1993, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Ngọc G, sinh năm: 1978, (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn dân sự: Nguyễn Đinh Phú T2, sinh năm 1995, (có mặt).
Địa chỉ: Khu phố B, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Ngọc T có Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp 31/10/2023. Tuy nhiên, ngày 30/05/2024, T bị Phòng C - Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính do chở quá tải. Đồng thời, bị áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hạng C số [...] trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày 30/05/2024 đến ngày 30/08/2024. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06/06/2024, Lê Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số: 63C-188.46 chở theo Dương Hoàng N (phụ xe) di chuyển trên đường Quốc lộ 14 theo hướng từ tỉnh Đắk Nông đi xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước để chở hàng cho anh Nguyễn Đinh Phú T2. Do không biết rõ địa điểm nhận hàng nên T đã điều khiển xe ô tô biển số: 63C-188.46 chạy qua địa điểm lấy hàng. Do đó, khi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước thì T điều khiển xe ô tô biển số: 63C-188.46 chuyển hướng sang phần đất bên trái đường để lùi xe để quay ngược lại. Trong khi lùi xe, T không chú ý quan sát nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số: 93K1-1982 do anh Huỳnh T3 điều khiển di chuyển theo hướng từ xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước về tỉnh Đắk Nông. Hậu quả: anh Huỳnh T3 tử vong tại chỗ, 01 xe ô tô biển số: 63C-188.46 và 01 xe mô tô biển số: 93K1-1982 bị hư hỏng.
Tại Kết luận giám định Pháp y về tử thi số: 590/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng KTHS - Công an tỉnh B, xác định: nạn nhân Huỳnh T3 bị chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, giập não xuất huyết dẫn đến tử vong.
Tại Kết luận giám định nồng độ cồn số: 624/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B xác định: Trong máu của tử thi Huỳnh T3 tìm thấy thành phần cồn Ethanol, nồng độ ethanol là: 180,133 mg/100ml.
- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã xử lý:
- + Trả lại 01 xe mô tô biển số: 93K1-1982 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị Bích L.
- + Trả lại 01 xe ôtô tải biển số: 63C-188.46 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đinh Phú T2.
- Trách nhiệm dân sư: Bị cáo T cùng với gia đình mình và chủ sở hữu xe ô tô tải biển số: 63C-188.46 đã bồi thường cho đại diện bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy D số tiền 480.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
Tại Cáo trạng số 123/CT –VKS.BĐ ngày 25/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lê Ngọc T về Tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Trọng phạm T4 vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 03 năm tù, cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng
Bị cáo Lê Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lê Ngọc T có Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp 31/10/2023. nhưng ngày 30/05/2024, T bị Phòng C - Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính do chở quá tải. Đồng thời, bị áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hạng C số [...] trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày 30/05/2024 đến ngày 30/08/2024. Do T không biết mình bị tước giấy phép lái xe nên khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06/06/2024, Lê Ngọc T vẫn điều khiển xe ô tô tải biển số: 63C-188.46 chở theo Dương Hoàng N (phụ xe) di chuyển trên đường Quốc lộ 14 theo hướng từ tỉnh Đắk Nông đi xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã M thì T điều khiển xe ô tô tải biển số: 63C-188.46 chuyển hướng sang phần đất bên trái đường rồi lùi xe để quay ngược lại nên va chạm với xe mô tô biển số: 93K1-1982 do anh Huỳnh T3 điều khiển, làm anh T3 tử vong tại chỗ.
Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Ngọc T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ
Điều 16. Lùi xe
1. Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi”
Với hậu quả anh Huỳnh T3 tử vong; ngoài ra bị cáo tham gia giao thông trong thời gian đang bị tước Giấy phép lái xe nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- làm chết người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
- Không có giấy phép lái xe theo quy định;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả nên đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khiến anh Huỳnh T3 tử vong, gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã cùng gia đình và bị đơn dân sự bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của gia đình người bị hại. Đại diện gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là con em gia đình có công với cách mạng, có bà ngoại là bà mẹ Việt Nam anh hùng và ông N1 là liệt sỹ, người bị hại cũng có một phần lỗi. Đây là các tình tiếtgiảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp với mục đích của hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét thấy, hành vi của bị cáo là lỗi vô ý. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe ô tô đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- + Trả lại 01 xe mô tô biển số: 93K1-1982 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị Bích L.
- + Trả lại 01 xe ôtô tải biển số: 63C-188.46 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đinh Phú T2.
Vật chứng vụ án đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng với gia đình đã bồi thường số tiền 280.000.000 đồng, bị đơn dân sự ông Nguyễn Đinh Phú T2 đã bồi thường số tiền 200.000.000 đồng; đại diện theo pháp luật của bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Trọng phạm T4 vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 03 năm tù (ba năm tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm (năm năm) kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Ngọc T về cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
6
Bản án số 123/2024/HSST ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về hình sự - tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 123/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc T, K2, Đ 260, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
