Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 12 năm 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXX-ST ngày 05 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QĐST-DS ngày 22/11/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị M, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Dương Thanh L, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2024 và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Lâm Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh Dương Thanh L quen biết trên tinh thần tự nguyện và chung sống như vợ chồng từ khoảng cuối năm 2007 tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên đã ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay, do đó không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân. Nay chị M nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị M và anh L có 02 con chung tên Lâm Minh T, sinh ngày 11/5/2008, Lâm Minh P, sinh ngày 19/12/2014. Hiện nay cháu P đang sống với chị M, còn cháu T đang sống với anh L. Sau khi ly hôn chị M yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, tự nguyện giao cháu T cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng sẽ tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Dương Thanh L, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L theo quy định, nhưng anh L không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho anh L; anh L cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; anh L đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ, nhưng không có mặt tại Tòa án, Tòa án đến nhà của anh L để làm việc nhưng không gặp nên không có lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Xét thấy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị M, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh L.

+ Về con chung: Giao cháu Lâm Minh P, sinh ngày 19/12/2014 cho chị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Lâm Minh T, sinh ngày 11/5/2008 cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận:

Về tố tụng:

Chị M yêu cầu ly hôn với anh L, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh L cư trú tại xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị M có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh L.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2007 tại Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, là sự kiện có xảy ra trên thực tế. Quá trình sống chung như vợ chồng chị M và anh L không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý” và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Đồng thời tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật này, nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Chị M xác định cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn với anh L. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho anh L, nhưng anh L không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án anh L không lần nào đến Tòa án và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị M. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình, nhưng nay chị M cương quyết xin ly hôn với anh L, mà anh L không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, chị M yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với anh L, thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được.

Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M, tuyên bố không công nhận chị Lâm Thị M và anh Dương Thanh L là vợ chồng.

[2] Về con chung: Quá trình chung sống chị M và anh L có 02 con chung tên Lâm Minh T, sinh ngày 11/5/2008, Lâm Minh P, sinh ngày 19/12/2014. Hiện nay cháu P đang sống với chị M, còn cháu T đang sống với anh L. Sau khi ly hôn chị M yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi cháu P, tự nguyện giao cháu T cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại bản tự khai của cháu Lâm Minh P, cháu P có nguyện vọng ở với mẹ. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của cháu P, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật. Do đó, việc giao cháu P cho chị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi và phù hợp với nguyện vọng của cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu P cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tại biên bản không làm việc được ngày 25/10/2024, Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương nơi cháu Lâm Minh T đang sinh sống để ghi nhận ý kiến của P, tuy nhiên hiện nay cháu T không có mặt tại nơi sinh sống nên không thể ghi nhận ý kiến của cháu T. Từ những căn căn cứ trên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị M giao cháu T cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Từ những phân tích trên, có căn cứ ghi nhận sự tự nguyện của chị M, giao Lâm Minh T, sinh ngày 11/5/2008 cho anh L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Chấp nhận yêu cầu của chị M giao cháu Lâm Minh P, sinh ngày 19/12/2014 cho chị M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lâm Thị M phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lâm Thị M và anh Dương Thanh L là vợ chồng.
  2. Về con chung:

    Ghi nhận sự tự nguyện của chị M, giao cháu Lâm Minh T, sinh ngày 11/5/2008 cho anh L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

    Chấp nhận yêu cầu của chị M giao cháu Lâm Minh P, sinh ngày 19/12/2014 cho chị M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

  3. Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Lâm Thị M phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Chị M đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005646 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.
  6. Án xử công khai, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện H;
  • - CCTHADS huyện H;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tâm

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị M yêu cầu ly hôn với anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger