Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày: 06-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình;

Ông Phan Ngọc Thạch.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Thị H, sinh năm 1983 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T và bà Thái Thị B (chết); có chồng là Phạm Minh H1 và 02 người con sinh năm 2007 và 2012; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2022/HS-St ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chưa chấp hành, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay (có mặt).
  2. Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1988 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng E và bà Nguyễn Bích N1; có chồng là Nguyễn Thế H2 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  3. Đặng Tùng C, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  4. Lê Thanh L, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh T3 và bà Mai Thị L1; có vợ là Nguyễn Thị Cẩm H3 (là bị cáo trong vụ án) và 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  5. Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2002 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị Bé X; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  6. Nguyễn Thị Cẩm H3, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H5 và bà Lê Thị Cẩm C1; có chồng là Lê Thanh L (là bị cáo trong vụ án) và 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  7. Đỗ Thị Kim H6, sinh năm 1971 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C2 (chết) và bà Phạm Thị T4 (chết); có chồng là Nguyễn Văn T5 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  8. Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1986 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng E và bà Nguyễn Bích N1; có vợ là Lê Hồng V1 và 02 người con sinh năm 2009 và 2013; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 06/6/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2010, đã được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).
  9. Nguyễn Văn K, sinh năm 1981 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T6 (chết) và bà Phạm Thị L2; có vợ là Nguyễn Thị Bé N (đã ly hôn, là bị cáo trong vụ án) và 02 người con sinh năm 2010 và 2016; tiền án, tiền sự: Không có; đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2024 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 28/4/2024, Đỗ Thị Kim H6, Đặng Tùng C, Huỳnh Thị H, Nguyễn Ngọc D, Lê Thanh L, Nguyễn Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn K đến nhà ông Nguyễn Hoàng E thuộc ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh chơi. Lúc này ông Nguyễn Hoàng E không có ở nhà, chỉ có Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Thị Bé N là con ruột của ông E đang ở nhà. Trong lúc chơi ở nhà ông E thì N, L, C rủ đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Cào ba lá” được thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. N lấy bộ bài tây 52 lá tại nhà ông E để chơi. N, L, C thay nhau làm cái xoay vòng mỗi người từ 03 đến 05 ván, mỗi người tham gia đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng và tự thỏa thuận với nhau là người nào làm cái được chín nút thì bỏ vào một cái ca nhựa từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng để trả tiền bài cho ông E. Khi tham gia đánh bạc N sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc, V sử dụng số tiền 400.000 đồng để đánh bạc, H6 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc, C sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc, D sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, H sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, K sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, L sử dụng số tiền 3.300.000 đồng để đánh bạc, H3 mượn 100.000 đồng của D để tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.550.0000 đồng. Sòng bạc diễn ra đến 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng có liên quan.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng V, Đỗ Thị Kim H6, Đặng Tùng C, Huỳnh Thị H, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Bé N, Lê Thanh L, Nguyễn Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số 1150/KL- KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Số tiền 13.100.000 đồng cần giám định là tiền thật.

Tại Kết luận giám định số 1559/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Số tiền 2.730.000 đồng cần giám định là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSTC ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Thị H, Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Cẩm H3, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Văn K về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Huỳnh Thị H, Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Cẩm H3, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Văn K phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Cẩm H3, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Văn K mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo còn lại.
  • - Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo H, Chinh L3 xin được giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo còn lại không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Thị H, Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Cẩm H3, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 28/4/2024, tại nhà của ông Nguyễn Hoàng E thuộc ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Ngọc D, Đỗ Thị Kim H6, Huỳnh Thị H, Nguyễn Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn K thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài Cào ba lá được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.550.000 đồng. Sòng bạc diễn ra đến 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng có liên quan. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Huỳnh Thị H, Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Cẩm H3, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Văn K phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: Các bị cáo chỉ phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Bị cáo H phạm tội trong trường hợp tái phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Bị cáo Vĩnh chỉ tham gia đánh bạc nhưng phạm tội trong trường hợp có nhân thân xấu nên phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo H nhưng cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo N, L là người chủ động khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, thay phiên nhau làm cái cho các bị cáo khác tham gia, có tính chất sát phạt như nhau và cao hơn các bị cáo còn lại, nên chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau và cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo C là người làm cái cho các bị cáo khác tham gia, có vai trò thấp hơn các bị cáo N, L và cao hơn các bị cáo còn lại nên chịu trách nhiệm hình thấp hơn các bị cáo N, L và cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo H6 chỉ tham gia đánh bạc như các bị cáo D, H3, K nhưng dùng số tiền lớn hơn các bị cáo D, H3, K để đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo C và cao hơn các bị cáo D, H3, K. Các bị cáo D, H3, K phạm tội có tính chất, mức độ tương đương nhau nên phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau và thấp hơn bị cáo H6.

[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo H, V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo N, C, L, D, H3, H6, K đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại đều không có.

[6] Xét thấy, với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo H, V cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Các bị cáo N, C, L đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập cá nhân của các bị cáo vì không có thu nhập ổn định cũng đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; đồng thời cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Các bị cáo D, H3, H6, K đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo chỉ cần xử phạt tiền cũng đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; đồng thời cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

[7] Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bổ sung các bị cáo N, C, L mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo H, V vì các bị cáo không có tài sản để thi hành.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • [8.1] Đối với 03 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • [8.2] Đối với số tiền 5.830.000 đồng thu giữ của các bị cáo là tiền dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • [8.3] Đối với số tiền 10.000.000 đồng và 01 xe mô tô thu giữ của bị cáo H3 không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về xử lý tài sản kê biên: Cần tiếp tục duy trì các Lệnh kê biên tài sản của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đối với bị cáo D cho đến khi bị cáo thực hiện xong các nghĩa vụ tài chính theo Bản án này.

[10] Đối với ông Nguyễn Hoàng E, không có thỏa thuận việc cho mượn nhà ở để đánh bạc, không cung cấp bài, không nhận tiền sâu từ những người làm cái nên không đủ cơ sở để xử lý hình sự là có căn cứ, Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/8/2024.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:
    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé N 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận được Quyết định thi hành án.
    2. Xử phạt bị cáo Đặng Tùng C 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao các bị cáo Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

    1. Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Lê Thanh L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Lê Thanh L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
    1. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim H6 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm H3 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
    4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  5. Căn cứ vào khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L mỗi bị cáo 10.000.000 (mười triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  6. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy 03 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng.
    2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 5.830.000 (năm triệu tám trăm ba mươi nghìn) đồng thu giữ của các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
    3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H7 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng và 01 xe mô tô biển số 70K1-697.16, số máy: JK01E0182086, số khung: RLHJK0116MZ641838 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2024).

  7. Về xử lý tài sản kê biên: Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 409/LKB-ĐTTH ngày 21/9/2024 của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đối với thửa đất số 153, tờ bản đồ số 78, diện tích 5.067,3 m², tọa lạc tại ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh do bị cáo Nguyễn Ngọc D đứng tên cho đến khi bị cáo thực hiện xong các nghĩa vụ tài chính theo Bản án này.
  8. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Huỳnh Thị H, Nguyễn Thị Bé N, Đặng Tùng C, Lê Thanh L, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Thị Cẩm H3, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Hoàng V, Nguyễn Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  10. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND H.Tân Châu;
  • - CCTHA-DS H. Tân Châu;
  • - CQĐT Công an H. Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THA phạt tù;
  • - Lưu tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Chung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị H cùng đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger