Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày: 06/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Giới

Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Ngọc S; sinh năm 1960, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tổ A, ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 07/12; con ông Trịnh Lưu A (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm 1927; có vợ Lê Thị O, sinh năm 1963; có 02 con ruột, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2024 cho đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 (chồng bị hại); Trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1957 (là cha, mẹ của bị hại) ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1998; Cùng trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Lê Thị O, sinh năm 1963. Trú tại: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trịnh Ngọc S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 02/11/2023, Trịnh Ngọc S, sinh năm 1960, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 93M1 – 202.08 lưu thông trên đường ĐT741 theo hướng thị trấn T, huyện Đ đi xã T, huyện Đ. Khi đến đoạn đường ĐT741 thuộc ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, S nhìn thấy phía trước khoảng 20 mét (m) có xe mô tô BKS 93M1 – 351.60 do Nguyễn Thị P (sinh năm 1994) đang điều khiển chở Nguyễn Quỳnh A1, SN 2020, lưu thông cùng chiều. Sâm điều khiển xe mô tô vượt bên trái (không bật tín hiệu xin vượt) thì xảy ra va chạm với xe mô tô do P điều khiển, làm cả ba người ngã xuống đường và được người dân đưa đi cấp cứu. Nguyễn Thị P do bị thương tích nặng nên được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H điều trị, đến ngày 04/11/2023 P tử vong.

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 21 giờ 05 phút ngày 02/11/2023 tại Km57, đường Đ thuộc ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông: Tai nạn xảy ra vào lúc 18 giờ 45 phút tại K, đường Đ thuộc ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước hướng từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương. Đường ĐT741 tổ chức giao thông là đường đôi, mặt đường rộng 24m, đường được trải bê tông nhựa, đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế che khuất, có vạch kẻ đường phân chia làn đường bằng nét đứt và nét liền. Đường có hai phần đường xe chạy, được phân chia bởi giải phân cách cứng, một phần đường theo hướng từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương và ngược lại. Khu vực xảy ra tai nạn giao thông là phần đường phía bên phải theo hướng đi từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương có 03 làn đường xe chạy, được phân chia bằng các vạch kẻ đường bằng nét đứt và thẳng màu trắng, làn thứ nhất là làn sát giải phân cách có bề rộng 3,9m, làn thứ hai làn ở giữa có bề rộng 3,9m, làn thứ ba là làn sát mép lề đường phải theo hướng đi có bề rộng 4,2m, phần lề đường bên phải theo hướng đi này có bề rộng 3m. Theo hướng thành phố Đ đi tỉnh Bình Dương hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm ngoài khu vực đông dân cư, cách biển báo hết khu vực đông dân cư (biển R421) 100m.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên, vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Số (1) là vị trí vết cày 1, có kích thước (2,9 x 0,01)m; Số (2) là vị trí vết cày 2 có kích thước (2,2 x 0,02)m; Số (3) là xe mô tô BKS 93M1 – 351.60; Số (4) là vị trí vết cày có kích thước (2,8 x 0,02)m; Số (5) là xe mô tô BKS 93M1 – 202.08.

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường chuẩn nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Chọn mép nhựa bên phải đường ĐT741 theo hướng đi từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương làm mép đường chuẩn. Chọn cột điện số 479 bên trong lề đường phía bên phải theo hướng đi từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương làm điểm mốc.

Mô tả theo thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết, đơn vị đó là mét (m):

  • + (1) Vết cày đứt quãng không liên tục, nằm bên phải đường trên làn đường số ba, chếch theo hướng đi từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương có kích thước (2,9 x 0,01)m, đầu (1) cách mép đường chuẩn 3,2m, cuối (1) cách mép đường chuẩn 2,55m.
  • + (2)Vết cày đứt quãng không liên tục, nằm bên phải đường, trên làn đường số 3, chếch theo hướng đi từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương có kích thước (2,2 x 0,02)m, đầu (2) cách mép đường chuẩn 3,5m, cách đầu (1) 1,55m, cuối (2) cách mép đường chuẩn 2,8m.
  • + (3) Xe mô tô BKS 93M1 – 351.60 sau tai nạn giao thông nằm ngã bên trái, ở phần đường bên phải trên làn đường số ba, đầu số (3) hướng về tỉnh Bình Dương, đuôi số (3) hướng về thành phố Đ, đầu tâm trục bánh trước bên phải của số (3) cách mép đường chuẩn 1,6m, cách điểm mốc 11,35m, đầu tâm trục bánh sau bên phải của số (3) cách mép đường chuẩn 2,8m, cách đầu của số (2) 2,2m.
  • + (4) Vết cày đứt quãng không liên tục theo chiều hướng đi từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi tỉnh Bình Dương nằm bên phải đường, trên làn đường số ba, đầu số (4) cách mép đường chuẩn 3,55m, cách đầu số (1) 4,5m, cuối số (4) cách mép đường chuẩn 2,4m.
  • + (5) Xe mô tô BKS 93M1 – 202.08 sau tai nạn giao thông nằm ngã bên trái, ở phần đường bên phải trên làn đường số ba, đầu số (5) hướng về tỉnh Bình Dương, đuối số (5) hướng về thành phố Đ, đầu tâm trục bánh xe phía trước bên phải của số (5) cách mép đường chuẩn 2,15m, cách điểm mốc 7,9m, đầu tâm trục bánh xe phía sau bên phải của số (5) cách mép đường chuẩn 2,6m, cách đầu tâm trục bánh xe phía trước bên phải của số (3) 2,75m.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1105 ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyễn Thị P, sinh năm 1994 bị chấn thương sọ não gây xuất huyết tụ máu nội sọ, chèn ép não, hôn mê sâu không hồi phục dẫn tới tử vong.

Kết luận giám định số 621 ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận vị trí va chạm giữa hai phương tiện: Vị trí mặt ngoài bên phải bô xe mô tô BKS 93M1 – 202.08 với vị trí mặt ngoài bên trái lốp bánh phía trước xe mô tô BKS 93M1 – 351.60 là phù hợp.

Cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Trịnh Ngọc S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt, đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án. Về vật chứng: Xe mô tô BKS 93M1- 202.08; Xe mô tô BKS 351.60 thu giữ tại hiện trường. Ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô BKS 93M1 – 351.60 cho Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ nội dung như cáo trạng là đúng, khẳng định là việc truy tố là đúng người đúng tội, không oan sai; Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước công bố bản luận tội, bị cáo không có tranh luận gì về phần tội danh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 02/11/2023, Trịnh Ngọc S điều khiển xe mô tô BKS 93M1 – 202.08 vượt không đảm bảo khoảng cách an toàn, va chạm với xe mô tô BKS 93M1 – 351.60 do Nguyễn Thị P điều khiển cùng hướng, làm P bị thương nặng, được đưa đi bệnh viện cấp cứu và tử vong. Hành vi trên của bị cáo Trịnh Ngọc S đã vi phạm khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2009 và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Trịnh Ngọc S về tội danh như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi mà bị cáo Trịnh Ngọc S đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định pháp luật về tham gia giao thông đường bộ; gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ.

Xét hành vi của bị cáo Trịnh Ngọc S đã thực hiện với lỗi vô ý. Khi phạm tội, bị cáo là người hoàn toàn bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được và buộc phải nhận thức được “khi muốn vượt xe khác phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi và không được phép vượt khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh bên lề phải, khi vượt phải đảm bảo khoảng cách an toàn”. Tuy nhiên, do chủ quan, quá tự tin khi điều khiển phương tiện giao thông nên Trịnh Ngọc S đã vượt xe đang đi phía trước mà không tuân thủ đầy đủ các điều kiện an toàn khi vượt, đã dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 93M1 – 351.60 do bị hại P điều khiển đang lưu thông cùng chiều làm bị cáo, bị hại P cùng cháu Nguyễn Quỳnh A1 bị ngã xuống đường, P bị thương tích nặng và tử vong sau 02 ngày điều trị tại Bệnh viện C. Cháu Quỳnh A1 không bị thương tích.

[3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị cáo là người có công với cách mạng (tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia); bị cáo là người già (trên 60 tuổi), sức khỏe yếu hiện đang điều trị bệnh tim; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo Trịnh Ngọc S gây ra, cần tuyên xử bị cáo một mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt như trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Trách nhiệm dân sự: Giữa gia đình bị hại và bị cáo đã thỏa thuận xong về phần bồi thường thiệt hại (bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng). Tại phiên tòa đại diện của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa bà Lê Thị O (vợ bị cáo S) trình bày, bà O có cùng ông S bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, tuy nhiên bà không có yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Vật chứng của vụ án: Xe mô tô BKS 93M1- 202.08 là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo Trịnh Ngọc S;

Đối với xe mô tô BKS 351.60 đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú xử lý trả lại cho Nguyễn Văn T (chồng của bị hại) theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Ngọc S phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50; 53, 54, 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/12/2024).

T2 giao bị cáo Trịnh Ngọc S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước và gia đình bị cáo, quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

3.Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Trịnh Ngọc S 01 mô tô BKS 93M1-202.08.

4.Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Trịnh Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Trịnh Ngọc S, đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Phước (01 bản);
  • -VKSND tỉnh Bình Phước (01 bản);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Phước (01)
  • - TTLLTP- SỞ TP tỉnh Bình Phước (01)
  • - VKSND huyện Đồng Phú (01 bản);
  • - THADS huyện Đồng Phú (01 bản);
  • - CA huyện Đồng Phú (03 bản);
  • - Bị cáo (01 bản);
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bị cáo phạm tội Vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông dường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger