|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ Bản án số 223/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-12-2024 V/v: tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Hùng Dũng
Bà Nguyễn Thị Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 453/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị K, sinh năm 1983. Có mặt.
Địa chỉ: Số F ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1976. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và tờ tự khai ngày 17/4/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh T do mai mối tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện C, TP Cần Thơ ngày 01/6/2005. Sau khi cưới vợ chồng về sống chung nhà với gia đình mẹ ruột của chị tại ấp T, xã T. Cho đến khoảng năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chung nhưng anh T hay ghen tuông, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên anh T bỏ đi nơi khác sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ khoảng năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy vợ chồng không thể đoàn tụ để tiếp tục chung sống, xây dựng cuộc sống hạnh phúc nên chị cương quyết xin ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Công N, sinh ngày 11/9/2008, cháu N đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại tờ tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 05/11/2024 và quá trình tố tụng anh Trần Văn T trình bày: Anh thống nhất với phần trình bày của chị K về thời gian tiến tới hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Anh xác định vợ chồng tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã T và cho rằng thời gian vợ chồng ly thân là vào tháng 5/2021 âm lịch. Anh T không đồng ý ly hôn, trường hợp tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh đồng ý giao con chung là cháu N cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, anh sẽ cấp dưỡng theo khả năng. Về tài sản chung: Anh xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị K, cho chị K được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao cháu Trần Công N, sinh ngày 11/9/2008 cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về nghĩa vụ chung: Các đương sự khai không có, không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn khởi kiện của chị K việc yêu cầu ly hôn với anh T thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, TP Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Anh T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh T xác lập hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân từ khoảng năm 2020- 2021 cho đến nay, nay xác định vợ chồng không thể hàn gắn nên chị K cương quyết xin ly hôn. Quá trình tố tụng anh T không đồng ý ly hôn nhưng cũng xác nhận vợ chồng không có khả năng hàn gắn để xây dựng hạnh phúc do vợ chồng không còn tình cảm với nhau.
Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị K và anh T đã đến mức trầm trọng, vợ chồng có thời gian sống ly thân đã khá lâu, không thể đoàn tụ để tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K đối với anh T.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung, theo lời trình bày của chị K, anh T cho thấy cháu N vẫn đang chung sống với chị K. Anh T không tranh chấp việc nuôi con và đồng ý giao con chị chị K trực tiếp nuôi dưỡng nếu tòa giải quyết cho ly hôn. Chị K có yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu N và cháu N cũng mong muốn được sống chung với chị K. Xét theo nguyện vọng của cháu N và để ổn định cuộc sống cho con chung chưa thành niên thì cần giao cháu N cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về chia tài sản: Các đương sự xác định tự thỏa thuận nên không xem xét.
[2.4] Về nghĩa vụ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.
[3] Về án phí: Chị K phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị K được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Công N, sinh ngày 11/9/2008 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh T không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh T không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị K. Nếu có thì chị K có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom của anh T.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
- Về chia tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét
- Nghĩa vụ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.
- Chị Võ Thị K phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị K đã nộp theo biên lai thu số 0008276 ngày 15/10/2024 thành tiền án phí.
Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thương |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Lương Hùng Dũng Nguyễn Thị Huệ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thương |
Bản án số 223/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 223/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
