Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số 123/2024/ST - HS

Ngày 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Huy Khoa và bà Trần Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế - Kiểm sát viên

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định xét xử số 121/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 15/2024/TB - TA ngày 22/11/2024 đối với;

Bị cáo: Bùi Văn H, sinh ngày 05/10/1982; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Viên chức tại Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần; Bố đẻ Bùi Văn V, (đã chết); Mẹ đẻ Phạm Thị L, sinh năm 1956; Vợ: Đỗ Thị N sinh năm 1988; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012; con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2003 đến năm 2006 tham gia nghĩa vụ quân sự. Năm 2007 được tuyển dụng viên chức theo hình thức hợp đồng làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại xã Đ, huyện Đ. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội H đang là cán bộ hộ lý khoa bệnh nhân đặc biệt nặng tại Trung tâm.

Bùi Văn H là đảng viên Đ. Bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 24/5/2024 theo quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 14 QĐ/UBKTĐUK của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy khối các cơ quan doanh nghiệp tỉnh Thái Bình

2

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng :

1. Ông Phạm Đình L1, sinh năm 1983

Nơi cư trú : Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

2.Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn H là hộ lý của khoa I thuộc Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, địa chỉ xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (sau đây gọi tắt là Trung tâm). Theo lịch trực tháng 5 năm 2024 của Trung tâm thì trong các ngày 01/5/2024 và 05/5/2024, H được Ban lãnh đạo Trung tâm phân công trực cùng ca với Trần Xuân Q cũng là hộ lý của khoa I – trực cùng phòng với H và Phạm Đình L1 là bảo vệ của Trung tâm. Vào buổi tối 02 ngày trên, tại phòng trực của H tại khoa I Trung tâm, H có hành vi cung cấp ma túy loại Methamphetamine, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy và trực tiếp hơ lửa cho Q và L1 sử dụng ma túy cùng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Chiều ngày 01/5/2024, H đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết sang xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình mua 300.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine rồi quay về Trung tâm. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã đi về phòng riêng của mình tại Trung tâm rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nước dạng chai number one, nắp chai bằng nhựa màu vàng, phần nắp chai có gắn ống hút nhựa màu trắng, ở thân chai gắn 01 coóng thủy tinh để chứa ma túy và 01 bật lửa màu đỏ có ống bằng giấy bạc màu trắng nối ở đầu tia lửa) mang sang phòng trực Khoa I tự pha chế số ma túy mua được lúc chiều rồi sử dụng. Khi H đang sử dụng ma túy thì L1 đi vào phòng trực để uống nước, thấy H sử dụng ma túy thì L1 bảo H: “Cho xin khói”, H đồng ý, do L1 không biết cách sử dụng nên khi L1 ngậm ống hút vào miệng thì H dùng bật lửa hơ nóng cóong thủy tinh có chứa ma túy cho ra khói để L1 sử dụng. Lạng hút một hơi rồi về phòng bảo vệ. Sau đó, Q ra ngồi tại bàn uống nước thì H cũng dùng bật lửa hơ nóng cóong thủy tinh có chứa ma túy cho ra khói để Q sử dụng cùng.

Lần thứ hai: Tối ngày 05/5/2024, H ăn cơm tại bếp ăn cùng một số cán bộ tại Trung tâm gồm: Trần Xuân Q, Phạm Đình L1 và Trần Văn K, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình – là cán bộ khoa bệnh nhân nặng của Trung tâm. Sau khi ăn xong, mọi người rủ nhau đi uống nước tại quán của chị Hoàng Thị N1 là nhân viên nhà bếp của Trung tâm, địa chỉ tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái

3

Bình. Lúc này có H, L1 và K đi cùng nhau, còn Q thì về phòng trực của khoa I, không tham gia. Trong lúc chờ K lấy xe ô tô chở đi, H bảo với L1 cho H mượn 500.000 đồng, mục đích để có thêm tiền lát nữa trả tiền nước. Sau khi L1 đưa H số tiền này thì H nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Do điện thoại của H hết tiền nên H mượn điện thoại của L1 để liên hệ mua ma túy đá (H không nói cho L1 biết việc này). Khi ngồi tại quán nước của chị N1 một lúc thì người bán ma túy gọi đến điện thoại của L1 thì H cầm điện thoại mang ra ngoài cửa quán để nghe và chỉ đường cho người này đến quán nước sau đó quay lại bên trong quán. Đến khoảng gần 21 giờ cùng ngày, do chưa thấy người bán ma túy đến nên H đi ra bên ngoài cửa quán nước đứng chờ thì gặp một người đàn ông đi xe máy đến chỗ H đứng và hỏi: “Chờ lâu chưa?”. Nghĩ là người bán ma túy nên H đưa cho người này 500.000 đồng thì người này đưa lại cho H một túi nilon trong suốt bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt. H cầm ở lòng bàn tay trái rồi quay trở lại quán và bảo mọi người về Trung tâm. Chị N1 chiêu đãi nước uống nên không ai phải trả tiền. Trên đường về, H không kể với ai việc vừa mua ma túy. Về đến nơi, L1 xuống xe để khóa cổng và kiểm tra xung quanh khu hành chính theo nhiệm vụ. K đi cất xe rồi về luôn phòng trực của khoa bệnh nhân nặng. H đi về đến phòng trực của khoa I thì thấy Q đang nằm tại giường xem điện thoại, H gọi Q dậy uống nước nhưng Q không dậy. Lúc này, H có nhu cầu sử dụng số ma túy vừa mua nên đã đi về phòng riêng của mình rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (là bộ dụng cụ đã sử dụng vào tối ngày 01/5/2024) mang sang phòng trực Khoa I tự pha chế rồi sử dụng ma túy. Hắc hút được một vài hơi thì L1 đi vào phòng trực khoa I để uống nước. Lạng vào ngồi cạnh bên tay phải của H, thấy H sử dụng ma túy thì quay sang bảo H: “Cho xin khói”. Hắc đồng ý thì L1 tự cầm lấy ống hút của bộ D sử dụng ma tuý đưa vào miệng, thấy vậy, H dùng bật lửa hơ nóng cóong thủy tinh có chứa ma túy cho ra khói để L1 sử dụng. Sau đó, H tiếp tục gọi Q dậy uống nước. Do bị gọi nhiều nên Q ngồi dậy và đi ra ngồi tại ghế phía bên tay trái chỗ H ngồi và bảo L1 đưa cho mượn điếu cày để hút thuốc lào. Sau khi Q hút thuốc lào xong thì thấy H để bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá ở cạnh chỗ Q, Q cầm lấy ống hút của bộ D sử dụng ma túy ngậm vào miệng, thấy vậy thì H cũng cầm bật lửa và hơ nóng cóong thủy tinh có chứa ma túy cho ra khói để Q sử dụng. Sau đó, 3 người rủ nhau đi câu cá. Hắc để bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống dưới chân tường cạnh giường ngủ trong phòng trực rồi đi ra ngoài bờ ao trước cửa khoa I. Q và L1 ngồi lại uống nước, hút thuốc lào rồi ra sau. Khi 3 người đang ngồi câu thì H nhìn thấy phía ngoài cổng Trung tâm có lực lượng Công an đến nên đã trốn ra khỏi Trung tâm, chỉ có L1 và Q ở lại và bị lực lượng Công an triệu tập làm việc. Quá trình làm việc Q và L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng ma tuý đá cùng Bùi Văn H tại Trung tâm.

Đến sáng ngày 06/5/2024, Công an huyện Đ triệu tập được H đến làm việc. Hắc đã khai nhận toàn bộ việc bản thân đã cung cấp ma túy đá, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và hành vi đưa, hơ nóng cóng ma túy giúp cho Q và L1 sử dụng như nêu trên.

Khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Bùi Văn H tại Trung tâm, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

4

Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 08/5/2024 của Bùi Văn H, Phạm Đình L1, Trần Xuân Q đều dương tính với ma túy Methamphetamine .

Kết luận giám định số 621/KL - KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Các mẫu nước tiểu thu của Trần Xuân Q, Phạm Đình L1, Bùi Văn H gửi giám định đều chứa ma túy, sản phẩm chuyển hóa của ma túy; loại Methamphetamine .

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen đã qua sử dụng lắp sim thuê bao số 0974063784 của Phạm Đình L1. Quá trình điều tra xác minh H khai sử dụng chiếc điện thoại này để liên hệ mua ma túy nhưng khi mượn không nói mục đích này cho anh L1, anh L1 không biết việc H sử dụng điện thoại của mình để liên hệ mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh L1;

Đối với bộ D sử dụng ma túy, H khai bộ dụng cụ sử dụng ma túy các đối tượng sử dụng trong tối ngày 01/5/2024 và tối ngày 05/5/2024 là cùng một bộ, sau khi sử dụng xong Hắc để bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở dưới chân tường cạnh giường trong phòng trực khoa I tại Trung tâm sau đó mọi người ra ngoài đi câu, hiện không biết ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp và truy tìm nhưng không tìm được.

Bản cáo trạng số 123/CT - VKSĐH ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố, tỏ ra ăn năn hối hận về việc đã làm, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng như đã truy tố. Đề nghị Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255 điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 38, 50, BLHS. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Phạt bị cáo từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Khi nói lời sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng; Biên bản làm việc do Công an huyện Đ lập hồi 01 giờ 40 phút ngày 06/5/2024 tại Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại xã Đ huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường do Công an huyện Đ lập ngày 06/5/2024; Sơ đồ vị trí chỗ ngồi trong khi sử dụng ma túy vào ngày 05/5/2024 do các đối tượng mô tả; Lịch trực tháng 05 năm 2024 của Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại xã Đ huyện Đ; Biên bản làm việc ngày 26/7/2024 tại Trung tâm T cho người tâm thần tại xã Đ huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người làm chứng anh Phạm Đình L1, anh Trần Xuân Q; Kết luận giám định số 621/KL- KTHS ngày 13/5/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T; Các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ kết luận: Vào buổi tối các ngày 01/5/2024 và ngày 05/5/2024, tại phòng trực khoa I của Trung tâm Chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, Bùi Văn H là cán bộ hộ lý khoa I (khoa bệnh nhân đặc biệt nặng) tại Trung tâm đã có hành vi tổ chức cho anh Trần Xuân Q là hộ lý của khoa I và anh Phạm Đình L1 là bảo vệ của Trung tâm sử dụng ma túy cùng. Trong cả 02 lần, H đều là người cung cấp ma túy loại Methamphetamine, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy và bật lửa hơ làm nóng ma túy cho anh Q và anh L1 sử dụng.

Do vậy hành vi của bị cáo Bùi Văn H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản

6

lý chất gây nghiện của nhà nước ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo là viên chức nhà nước, là Đảng viên Đ, biết rõ tác hại của ma túy, biết việc sử dụng và tổ chức sử dụng ma túy là trái pháp luật. Tuy nhiên để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia quân đội; Trong quá trình công tác được Sở lao động thương binh xã hội tỉnh T tặng giấy khen nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo sử dụng ma túy và mua ma túy cho anh L1, anh Q sử dụng chung chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu bản thân mà không nhằm mục đích vụ lợi. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về các vấn đề liên quan: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen đã qua sử dụng lắp sim thuê bao số 0974063784 của Phạm Đình L1, bị cáo H mượn sử dụng để liên hệ mua ma túy nhưng khi mượn bị cáo không nói mục đích này cho anh L1, anh L1 không biết việc H sử dụng điện thoại của mình để liên hệ mua ma túy. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc điện thoại trên cho L1 là đúng thẩm quyền.

Đối với bộ dụng cụ H và anh Q, anh L1 dùng để sử dụng ma túy, tối ngày 01/5/2024 và tối ngày 05/5/2024, sau khi sử dụng xong Hắc để bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở dưới chân tường cạnh giường trong phòng trực khoa I tại Trung tâm Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp và truy tìm nhưng không tìm được.

Đối với anh Phạm Đình L1 và anh Trần Xuân Q là những người sử dụng ma túy cùng H. Tuy nhiên họ không bàn bạc hay thống nhất từ trước với H về việc sử dụng ma túy. Anh L1 và anh Q không biết cách sử dụng ma túy nên trong các lần sử dụng đều do H hơ lửa cho sử dụng. Bản thân anh L1 khi đưa tiền và cho H mượn điện thoại thì đều không biết việc H sẽ sử dụng để mua ma túy, H cũng không nói mục đích này với anh L1. Do đó không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh L1 và anh Q.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H chiều ngày 01/5/2024 ở T, T với giá 300.000 đồng, H khai Hắc không quen biết nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H tối ngày 05/5/2024, H khai được bạn sử dụng ma túy cho số điện thoại từ trước. Hắc ghi số điện thoại ra tờ giấy, không lưu lại và không nhớ số của người này. Bản thân H không biết tên, địa chỉ người bán ma túy. Sau khi liên hệ mua ma túy, H đã xóa nhật ký cuộc gọi rồi trả lại điện thoại cho L1. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát kiểm tra camera tại khu vực quán của chị N1. Qua kiểm tra, rà soát không phát hiện, thu giữ hình ảnh, tài liệu gì liên quan.

7

Đồng thời cũng đã tiến hành sao trích danh sách nhật ký cuộc gọi đối với thuê bao điện thoại của Phạm Đình L1, tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về nguồn gốc số tiền 300.000 đồng H dùng vào việc mua ma túy ngày 01/5/2024 do H sử dụng tiền lương của mình để mua; Số tiền 500.000 đồng H dùng mua ma túy ngày 05/5/2024 do H mượn của L1, khi mượn H không nói với anh L1 là mượn tiền làm gì, anh L1 nghĩ H đã dùng mua cần câu nên không yêu cầu bị cáo Η phải hoàn trả do vậy không đặt ra giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .

2. Về áp dụng điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng Điểm a, b khoản 2 Điều 255, Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Bùi Văn H 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/5/2024;

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Văn H.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV buộc bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/11/2024.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - VKSND huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã Thụy Phong,, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/ST - HS ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 123/2024/ST - HS
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Hắc - Tổ chức trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger