Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST.

Ngày: 19-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam

+ Ông Ngô Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan T (tên gọi khác: Quậy); Giới tính: Nam; sinh ngày: 02-9-1991, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Cha: Phan N, sinh năm: 1953; Mẹ: Nguyễn Thị T1 sinh năm 1956; A, chị, em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1994; Vợ: Cao Thị M, sinh năm 2003 (không đăng ký kết hôn, hiện không còn sống chung); Con: có 01 người sinh năm 2017;

Tiền án: 01 tiền án; Tại bản án số 53/2024/HSST, ngày 18-6-2024 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành hình phạt.

Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt ngày 19-7-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T; (Có mặt).

Người làm chứng: Trần Thị Thu T2, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt).

Người chứng kiến: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, thông qua mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội nên Phan T biết được tại khu vực chợ H1, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận có người bán ma túy đá. Ngày 15-7-2024 T một mình đi đến khu vực nêu trên gặp một người đàn ông không rõ lai lịch mua 500.000 đồng được 07 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá, T mang về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng hơn 11 giờ 45 phút ngày 19-7-2024 T đang ở trong nhà thì nghe lực lượng Công an thị trấn P, huyện T yêu cầu mở cửa để kiểm tra. Sợ bị phát hiện T lấy 07 đoạn ống nhựa chứa ma túy để ở trên bàn bên cạnh nệm mà T đang nằm bỏ vào bồn cầu trong nhà vệ sinh rồi xả nước nhưng không bị trôi đi nên bị phát hiện. Thu giữ trong bồn cầu nhà vệ sinh 07 đoạn ống nhựa không màu hàn kín, đều có kích thước (01 x 02)cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận 07 đoạn ống nhựa không mẫu hàn kín, kích thước giống nhau (01 x 02)cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá của T mua về nhằm mục đích sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 869/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,6653 gam, là Methamphetamine.

Về các tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ: Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong: 07 đoạn ống nhựa không màu, đều có kích thước (02 x 01)cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,6340 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 869, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Phan T, do không rõ lại lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Bản Cáo trạng số 138/CT-VKSTP-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Phan T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị Phan T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp 01 (một) năm tù tại Bản án số 53/2024/HSST ngày 18/6/2024, buộc bị cáo Phan T chấp hành hình phạt chung là từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19-7-2024.

+ Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 07 đoạn ống nhựa không màu, đều có kích thước (02 x 01)cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,6340 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 869, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Phan T, do không rõ lại lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

- Bị cáo Phan T thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan T không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: Vào khoảng hơn 11 giờ 45 phút ngày 19-7-2024 tại khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận lực lượng Công an thị trấn P, huyện T bắt quả tang Phan T có hành vì tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong bồn cầu nhà vệ sinh 07 đoạn ống nhựa không màu hàn kín, đều có kích thước (01 x 02)cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận 07 đoạn ống nhựa không mẫu hàn kín, kích thước giống nhau (01 x 02)cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá của T mua về nhằm mục đích sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 869/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,6653 gam, là Methamphetamine.

Hành vi cất giấu ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,6653 gam của bị cáo Phan T nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phan T là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút cất giấu ma túy để sử dụng là trái pháp luật, xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Methamphetamine là chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của mình mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội mà còn làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhận thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, lần này tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân không tốt và bị cáo có tiền án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Bị cáo Phan T phạm tội mới trong thời gian đang chấp hành hình phạt 01 (một) năm theo Bản án số 53/2024/HSST ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong nên áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), để tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Xử lý vật chứng: Toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 07 đoạn ống nhựa không màu, đều có kích thước (02 x 01)cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,6340 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 869, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Đ a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.

[6] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Phan T, do không rõ lại lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Bị cáo Phan T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Phan T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Phan T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp 01 (một) năm tù tại Bản án số 53/2024/HSST ngày 18/6/2024, buộc bị cáo Phan Thương chấp H hình phạt chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19-7-2024.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 07 đoạn ống nhựa không màu, đều có kích thước (02 x 01)cm, đều đã cắt lấy mẫu và 0,6340 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 869, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 31-10-2024).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Phan T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19-11-2024).

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố: Bị cáo Phan T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Phan T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp 01 (một) năm tù tại Bản án số 53/2024/HSST ngày 18/6/2024, buộc bị cáo Phan Thương chấp H hình phạt chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19-7-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger