Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kháng và bà Nguyễn Thị Ngà.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2024/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXX-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Cà Văn T, sinh năm 1993.
  2. Nơi sinh và nơi cư trú: Bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cà Văn P và bà Lò Thị N; Vợ: Lò Thị V ( đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

    Nhân thân: Năm 2020, bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 17 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (ngày 29/4/2021 chấp hành xong).

    T bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024, chuyển tạm tam ngày 06/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Vì Văn H, sinh năm 2001
  4. Nơi sinh và nơi cư trú: Bản Mòn, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vì Văn S ( đã chết) và bà Quàng Thị V1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. H bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024, chuyển tạm tam ngày 06/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Cà Văn P, sinh năm 1971, vắng mặt.
  • Địa chỉ: Bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Người làm chứng:

  • Ông Lê Văn T1, sinh năm 1970
  • Ông Lê Văn D, sinh năm 1962
  • Bà Lê Thúy N1, sinh năm 1979
  • Đều có địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Văn Đức T2, sinh năm 1947
  • Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  • Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì Văn H và Cà Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy (loại Heroine) và không có việc làm ổ định nên vào đầu tháng 02/2024, do quen biết với Quàng Văn T3, sinh năm 1990 ở bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (hiện đang trọ tại thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên) thì T3 có đặt vấn đề nhờ T và H bán ma túy Heroine giúp T3 cho các con nghiện ở khu vực huyện V thì hàng ngày sẽ trả cho T3 và H mỗi người 100.000 đồng và 03 gói ma túy để sử dụng, H và T đồng ý. T3, H và T thoả thuận cuối mỗi ngày thì cùng nhau mang tiền bán ma túy được đến đưa cho T3 và lấy ma túy tiếp tục mang đi bán, mỗi lần T3 giao cho H và T khoảng 15 đến 20 gói ma túy Heroine để bán với giá tiền 100.000 đồng/1 gói.

Khoảng 16 giờ ngày 02/4/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 26B2-743.23 chở H đi từ phòng trọ thuê của gia đình bà Lê Thúy N1, sinh năm 1979, ở thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến phòng trọ của T3 ở thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để lấy ma túy mang về bán. Khi đến phòng trọ thì T cùng H đi vào bên trong phòng trọ gặp T3 để lấy ma túy, tại đây T3 đưa cho H 01 túi nilon có viền bấm màu trắng mép màu đỏ bên trong có 20 gói nilon nhỏ màu xanh, trong các gói nilon này đều chứa ma túy loại Heroine. Sau đó H cầm số ma túy này cất vào trong người rồi cùng T đi về phòng trọ của H và T. Khi về phòng trọ thì H bỏ số ma túy ra lấy 02 gói và tự sử dụng, sau khi sử dụng xong thì T tiếp tục tự lấy 02 gói ma túy ra sử dụng. Khi cả hai sử dụng ma túy xong thì H cất túi nilon bên trong có 16 gói ma túy còn lại vào trong chiếc gối của H để trên giường ngủ rồi cả hai nằm ngủ, chờ đến sáng ngày hôm sau cả hai mang đi bán. Đến khoảng 07 giờ ngày 03/4/2024, khi H và T đang trong phòng thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon viền bấm màu trắng mép màu đỏ kích thước 4x6,5cm ở trong gối trên giường phòng trọ bên trong túi nilon chứa 16 gói nilon màu xanh được hàn kín đầu bên trong túi nilon màu xanh chứa chất màu trắng dạng cục và bột (được niêm phong ký hiệu M1). Thu giữ của H: 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân mang tên Vì Văn H. Thu giữ của người Trọng: 01 điện thoại Redmi màu đen đã qua sử dụng, số tiền 2.100.00 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Cà Văn T, 01 đăng ký xe mô tô biển số 26B2-743.23, 01 xe mô tô Honda Wave, máu trắng, biển số 26B2-743.23, số khung: JA39E2332439, số máy: RLHJA3927MY212523.

Ngày 03/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vì Văn H, Vì V tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên và chỗ ở của Quàng Văn T3 tại thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Tại bản thông báo kết luận giám định sơ bộ số 302 ngày 03/4/2024 và Kết luận giám định số 302 ngày 06/4/2024 của phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng là: 0,757g, là chất ma túy, loại Heroine. H1 lại mẫu vật trong một miêm phong ghi số 302/KL-KTHS (MT) bên trong có 0,712g ma tuý loại Heroine.

Đối với vật chứng đã thu giữ của vụ án: 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng thu của H, 01 điện thoại Redmi màu đen thu của T, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của các bị can sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý; 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định số 302/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H. Còn 01 căn cước công dân mang tên Cà Văn T, 01 căn cước công dân mang tên Vì Văn H không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã nhập kho vật chứng để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 2.100.00 đồng là tiền do Cà Văn T và Vì Văn H bán ma túy mà có. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập toàn bộ số tiền trên vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V tại Kho bạc Nhà nước huyện V để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu mô tô Honda Wave màu trắng BKS: 26B2-743.23 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015110 tên chủ xe là Cà Văn P thu của Trọng qua điều tra xác định là xe của ông Cà Văn P sinh năm 1971 ở bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La (là bố đẻ của T), ông P không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 25/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông P, ông P nhận xe không yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với hành vi sử dụng chất ma tuý của H và T, Công an huyện V đã xử lý hành chính.

Quá trình điều tra xác định sau khi phạm tội Quàng Văn T3 đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy nã và quyết định tách vụ án hình sự đối với bị cáo Quàng Văn T3 để giải quyết sau.

Vì Văn H và Cà Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, H và T khai số ma túy bị thu giữ trên mục đích để bán cho người khác kiểm lời. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 113/CT-VKS, ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà; Các bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Cả hai bị cáo đều thừa nhận bị cáo T là người rủ bị cáo H cùng đi bán ma túy cho Quàng Văn T3. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Cà Văn T, Vì Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Xử phạt bị cáo Vì Văn H từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định số 302/KL-KTHS (MT) của phòng K Công an tỉnh H.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.100.000 đồng tiền các bị cáo bán ma túy mà có.

Tịch thu 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng thu của H, 01 điện thoại Redmi màu đen thu của T phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Vì Văn H 01 căn cước công dân.

Trả lại cho bị cáo Cà Văn T 01 căn cước công dân.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Các bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người liên quan, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Kkhoảng 16 giờ ngày 02/4/2024 tại thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Quàng Văn T3 đã cung cấp ma tuý cho Vì Văn H và Cà Văn T để bán trái phép. Đến khoảng 07 giờ ngày 03/4/2024 tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Vì Văn H và Cà Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trong người 0,757 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích bán trái phép cho các con nghiện thì bị Công an huyện V phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Còn T3 bỏ trốn.

Trong vụ án này, H và T giữ vai trò đồng phạm. Còn T3 giữ vai trò chính đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã và tách vụ án để giải quyết theo quy định.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an. Heroin là chất ma túy rất độc hại, tàn phá và hủy hoại sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong những năm qua, tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện V diễn biến phức tạp, Nhà nước, các cấp chính quyền và đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma túy, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn về ma túy và tội phạm ma túy. Các bị cáo nhận thức được đầy đủ về tác hại của ma túy nhưng vẫn tham gia mua bán trái phép, nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án hình sự mang tính chất đồng phạm giản đơn do hai bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm. Nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra và cùng phải chịu một chế tài do điều luật đó quy định, song về nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó. Bị cáo T là người rủ bị cáo H cùng đi bán ma túy cho Quàng Văn T3 cho nên phải xác định T có vai trò cao hơn bị cáo H trong vụ án.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:

  • - Về nhân thân của các bị cáo:
  • Bị cáo Cà Văn T năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy ( đã chấp hành xong ngày 29/4/2021). Như vậy thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng khi trở về nơi cư trú không chịu rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng mà lại tiếp tục phạm tội.

    Bị cáo Vì Văn H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình để cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra kết thúc vụ án sớm, các bị cáo đều là người dân tộc nên hiểu biết có phần hạn chế. Vì vậy, các bị cáo Cà Văn T, Vì Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộluật hình sự, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,...” do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Các bị cáo là người nghiện ma túy, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo

[6] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 302/KL-KTHS (MT) của Phòng K, Công an tỉnh H, bên trong là vật chứng ma túy thu giữ của các bị cáo, nên tịch thu cho tiêu huỷ.
  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.100.000 đồng tiền các bị cáo bán ma túy.
  • Tịch thu 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng thu của H bên trong lắp sim liên lạc 0867.587.xxx, 01 điện thoại Redmi màu đen thu của T bên trong lắp sim liên lạc 0972.305.xxx bán phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.
  • Trả lại cho bị cáo Vì Văn H 01 căn cước công dân số [...] do cục C về TTXH cấp ngày 25/6/2021 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Trả lại cho bị cáo Cà Văn T 01 căn cước công dân số [...] do cục C về TTXH cấp ngày 07/01/2022 không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 26B2-743.23 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 015110 tên chủ xe là Cà Văn P (là bố đẻ của T) thu của T, ông P không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 25/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông P, ông P nhận xe không yêu cầu, đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  • Đối với hành vi sử dụng chất ma tuý của H và T, Công an huyện V đã xử lý hành chính là đúng quy định.
  • Đối với Quàng Văn T3 là người đưa ma túy cho H và T4 đi bán hiện đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy nã và quyết định tách vụ án hình sự đối với bị can Quàng Văn T3 để giải quyết sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 46; khoản 1 Điều 47; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Cà Văn T, Vì Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Cà Văn T 02 ( hai ) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Xử phạt: Bị cáo Vì Văn H 02 ( hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 302/KL-KTHS (MT) của Phòng K, Công an tỉnh H.
  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.100.000 đồng tiền các bị cáo bán ma túy.
  • ( Số tiền hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1051239.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm tại Kho bạc Nhà nước huyện V).

  • Tịch thu 01 điện thoại Iphone 6 plus màu trắng thu của Vì Văn H bên trong lắp sim liên lạc 0867.587.xxx và 01 điện thoại Redmi màu đen thu của Cà Văn T bên trong lắp sim liên lạc 0972.305.xxx bán phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.
  • Trả lại cho bị cáo Vì Văn H 01 căn cước công dân số [...] do cục C về TTXH cấp ngày 25/6/2021 mang tên Vì Văn H.
  • Trả lại cho bị cáo Cà Văn T 01 căn cước công dân số [...] do cục C về TTXH cấp ngày 07/01/2022 mang tên Cà Văn T.
  • (Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

  • Về án phí: Buộc các bị cáo Cà Văn T, Vì Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ( Phòng KTNV và THA)
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện;
  • - CQSCĐT Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Văn T và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger