Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 18-09-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.
  2. Bà Lê Thị Quỳnh Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Đ – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 04/2024/QĐ-TA ngày 13/9/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1987 tại thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 485/2 khu phố M, thị trấn C, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1963; có vợ là Trần Ngọc T2, sinh năm: 1991 và có 02 con sinh năm 2014 và 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 70/2018/HS-ST ngày 23/5/2018, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bị bắt từ ngày 20/5/2024, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Bích T3, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/5/2024, Nguyễn Hữu T liên lạc với một người không rõ lai lịch qua mạng xã hội Facebook mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 20/5/2024, T về đến Bà Rịa và thuê phòng số 25 nhà nghỉ T5 tại số D B, khu phố G, phường P, TP. để nghỉ ngơi và lấy một ít ma tuý để sử dụng. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, T nhắn tin qua tài khoản zalo "Pé L" cho Phạm Thị Bích T3, sinh năm: 1993, HKTT: ấp P, xã T, TP B, tỉnh BR-VT rủ T3 đến phòng 25 nhà nghỉ T5 để sử dụng ma túy đá. Khi T3 đến phòng 25 nhà nghỉ T5 thì T đưa cho T3 một gói ma tuý đá và bộ D1 sử dụng ma tuý đá. Tuyền lấy một ít ma túy để sử dụng, số ma tuý còn lại T3 đưa cho T để trên nệm và đưa lại bộ dụng cụ để T sử dụng thì bị Đội CSĐT KTMT Công an T6 phối hợp với Công an phường P, TP . kiểm tra, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon một đầu hàn kín, một đầu hở, bên trong chứa chất kết tinh, không màu, trong suốt trên giường gỗ, phòng 25 Nhà nghỉ T5; 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu OPPO, số IMEI: 863827056741111; 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ iPhone, số IMEI: 357269090474610; 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) hộp quẹt.

Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Hữu T khai nhận: mẫu chất kết tinh không màu trong suốt Công an thu giữ là ma túy đá. Trường Q qua mạng xã hội Facebook, có tình cảm nam nữ nên rủ T3 đến nhà nghỉ C. Qua nói chuyện T biết T3 có sử dụng ma túy đá nên cung cấp chất ma túy đá cho T3 sử dụng, đây là lần đầu tiên T cung cấp ma túy cho T3 sử dụng, T không hưởng lợi ích vật chất hay lợi ích gì khác từ việc đưa ma túy cho T3 sử dụng.

Phạm Thị Bích T3 khai nhận: khoảng 07 giờ ngày 20/5/2024, khi T3 đang ở nhà thì Nguyễn Hữu T (sử dụng zalo G travel) chụp ảnh bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá và nhắn tin rủ T3 đến nhà nghỉ T5 để sử dụng ma tuý. Khoảng 09 giờ 50 phút, T3 đến phòng 25 nhà nghỉ T5, gặp T. Tại đây, T đưa cho T3 01 gói nylon chứa ma túy đá và một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để T3 sử dụng. Khi T3 sử dụng ma tuý xong thì đưa lại bộ dụng cụ cho T sử dụng thì Công an đến kiểm tra, bắt quả tang. Tuyền thừa nhận đây là lần đầu tiên T cung cấp ma túy cho T3 sử dụng, T3 không phải trả tiền hay lợi ích gì khác cho T.

Kết qủa xét nghiệm, Nguyễn Hữu T và Phạm Thị Bích T3 dương tính chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 301/KL-KTHS-MT ngày 24/5/2024 của Phòng PC09, Công an tỉnh B-VT: Mẫu A (chất kết tinh không màu trong suốt) có khối lượng 0,3241 gam là ma túý loại Methamphetamine.

* Vật chứng hiện đang tạm giữ:

  • 01 (một) gói ma túy hoàn lại sau giám định phong bì niêm phong vụ số 301 ngày 27/05/2024, có chữ ký của Trung tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Đinh Hữu T4.
  • 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu OPPO, số IMEI: 863827056741111 của Nguyễn Hữu T dùng liên lạc, nhắn tin, T có sử dụng để nhắn tin với Phạm Thị Bích T3 qua zalo, rủ T3 đến nhà nghỉ T5 sử dụng ma túy đá.
  • 01 (một) điện thoại di động màu trắng có chữ iPhone, số IMEI: 357269090474610 của Phạm Thị Bích T3 dùng liên lạc cá nhân. Cơ quan CSĐT Công an T6 đã xử lý bằng hình thức trả lại Phạm Thị Bích T3.
  • 01 (một) ống thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Hữu T.
  • 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của Nguyễn Hữu T cung cấp để T và Phạm Thị Bích T3 sử dụng ma túy.
  • 01 (một) hộp quẹt của Nguyễn Hữu T dùng để hút thuốc và sử dụng ma túy đá.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định chuyển những vật chứng trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 128/CT-VKSTPBR ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với 01 (một) gói ma túy hoàn lại sau giám định phong bì niêm phong vụ số 301 ngày 27/05/2024, có chữ ký của Trung tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Đinh Hữu T4; 01 (một) ống thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Hữu T; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của Nguyễn Hữu T cung cấp để T và Phạm Thị Bích T3 sử dụng ma túy; 01 (một) hộp quẹt của Nguyễn Hữu T dùng để hút thuốc và sử dụng ma túy đá, liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu OPPO, số IMEI: 863827056741111 của Nguyễn Hữu T có sử dụng để nhắn tin với Phạm Thị Bích T3 qua zalo, rủ T3 đến nhà nghỉ T5 sử dụng ma túy, có liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 20/5/2024 tại phòng số 25 nhà nghỉ T5 tại số D B, khu phố G, phường P, thành phố B, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy - Công an thành phố T6 phối hợp với Công an phường P, thành phố B kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Hữu T đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Thị Bích T3, số ma túy thu giữ là 0,3241 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức, biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu từng bị xử phạt 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Đối với 01 (một) gói ma túy hoàn lại sau giám định phong bì niêm phong vụ số 301 ngày 27/05/2024, có chữ ký của Trung tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Đinh Hữu T4; 01 (một) ống thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Hữu T; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của Nguyễn Hữu T cung cấp để T và Phạm Thị Bích T3 sử dụng ma túy; 01 (một) hộp quẹt của Nguyễn Hữu T dùng để hút thuốc và sử dụng ma túy đá, liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu OPPO, số IMEI: 863827056741111 của Nguyễn Hữu T có sử dụng để nhắn tin với Phạm Thị Bích T3 qua zalo, rủ T3 đến nhà nghỉ T5 sử dụng ma túy, có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói ma túy hoàn lại sau giám định phong bì niêm phong vụ số 301 ngày 27/05/2024, có chữ ký của Trung tá Nguyễn D, Hoàng Thị Lan M, Đinh Hữu T4; 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp quẹt.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu OPPO, số IMEI: 863827056741111 của Nguyễn Hữu T (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 125 ngày 22/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (18/9/2024) bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự - tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger