Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày: 12/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Tấn Triều
  • - Ông Lê Anh Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thái Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 680/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành T, sinh năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Đăng ký thường trú: Số 392/8/99 A, phường B, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số 557/32B đường A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T (sống) và bà Nguyễn Ngọc N (sống); bị cáo có vợ là Bùi Thị Hạnh N và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/7/2023, sau khi thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa của Nguyễn Thành T, địa chỉ 557/32B, đường A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ nghi vấn Bằng tốt nghiệp T cấp chuyên nghiệp do Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Nguyễn Thành T là giả nên đã chuyển tất cả những tài liệu cùng văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xử lý theo quy định:

  • - 01 Bằng tốt nghiệp T cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ máy tính, số hiệu: 00645299; số vào số cấp bằng: 174/MT, do TS. Tạ Xuân Tề - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh ký tên, cấp cho Nguyễn Thành T vào ngày 08/7/2011 (bản photo có chứng thực);
  • - 01 bản gốc đơn đề nghị cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa tên Nguyễn Thành T; 01 bản photocopy Chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch tên Nguyễn Thành T; 01 bản gốc Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 124/TNHS ngày 29/5/2023; 01 Bản gốc Giấy khám sức khỏe tên Nguyễn Thành T, SN 1990, địa chỉ 557/32B A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ và 02 ảnh 3x4cm của Nguyễn Thành T.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thành T khai: Vào khoảng cuối năm 2009, khi hành nghề lái taxi, bị cáo có quen và trò chuyện với người tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) là muốn học tiếp để có bằng cấp đi làm do bị cáo chỉ mới học hết lớp 11; Đ nói bị cáo làm hồ sơ đăng ký học bổ túc văn hóa và học nghề vào buổi tối, thời gian học khoảng 1,5 năm, bận việc nghỉ học thì báo cho Đ biết để xử lý. Sau đó T đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo hướng dẫn và đưa cho Đ gồm: Chứng minh nhân dân của Nguyễn Thành T (bản photo công chứng), 04 ảnh 3x4 của Nguyễn Thành T, Sơ yếu lý lịch của Nguyễn Thành T (có xác nhận của địa phương), Giấy khám sức khỏe của Nguyễn Thành T (bản gốc), Học bạ đến lớp 11 của Nguyễn Thành T (bản photo công chứng).

Đến tháng 01/2010, sau khi Đ thông báo nhập học, bị cáo có đi học tại Trường Cao đẳng công nghiệp IV Thành phố Hồ Chí Minh (chỉ nhớ gần chợ Gò Vấp, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh), nhưng không theo học thường xuyên, không thi hết môn nhiều môn học và không tham dự kỳ thi tốt nghiệp để có bằng tốt nghiệp. Đầu năm 2011 sau khi Trường Cao đẳng công nghiệp IV Thành phố Hồ Chí Minh được nâng chuẩn thành Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh thì đến khoảng tháng 8/2011, Đ giao cho bị cáo 01 Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tên Nguyễn Thành T, giới tính: nam; ngày sinh: 05/7/1990; ngành đào tạo: công nghệ máy tính; xếp loại tốt nghiệp: khá; hình thức đào tạo: chính quy; số hiệu: 00645299; số vào số: 174/MT ngày 08/7/2011 do TS. Tạ Xuân Tề, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ký và nhiều bản photo đã công chứng. Tổng số tiền T đã trả cho Đ đến khi có Bằng tốt nghiệp là 18.500.000 đồng.

Sau khi nhận bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp bị cáo cất giữ, đến khoảng tháng 03/2023 do muốn hành nghề hướng dẫn viên du lịch nội địa nên bị cáo tham gia học lớp đào tạo và được Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cấp Chứng chỉ Nghiệp vụ Hướng dẫn viên du lịch nội địa; sau đó T nhờ Lê Hùng M (Giám đốc Công ty cổ phần Trí thức Việt - đơn vị liên kết đào tạo với Trường Đạo học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh) nộp hồ sơ đến Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch xin cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa. Đến tháng 7/2023, M gọi thông báo cho T là Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch thành phố Cần Thơ trả lời bằng tốt nghiệp số hiệu: 00645299 không có tên trong danh sách cấp phát bằng của Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh nên T không đủ điều kiện được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu Nguyễn Thành T giao nộp bản gốc Bằng tốt nghiệp T cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ máy tính, số hiệu: 00645299; số vào số cấp bằng: 174/MT, do TS. Tạ Xuân Tề - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ký tên, cấp cho Nguyễn Thành T vào ngày 08/7/2011. Tuy nhiên, T khai đã đưa bản gốc cho anh Lê Hùng M giữ nên không giao nộp. Qua làm việc anh Lê Hùng M khai chỉ nhận của bị cáo bản photo có chứng thực Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ máy tính, số hiệu: 00645299 tên Nguyễn Thành T, và hồ sơ kèm theo nộp cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ cũng xác nhận hồ sơ xin cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa chỉ cần văn bằng photo có chứng thực.

Theo kết quả trả lời của Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 10/2009 đến tháng 09/2011 Nhà trường không có tiếp nhận hồ sơ của sinh viên Nguyễn Thành T, sinh ngày 05/7/1990, nơi thường trú 392/8/99 A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký học ngành Công nghệ máy tính và bổ túc cấp 3 (bút lục: 69 - 71).

Bị cáo T thừa nhận khi nhận Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ máy tính, số hiệu: 00645299; số vào số cấp bằng: 174/MT, do TS. Tạ Xuân Tề - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ký tên, cấp cho Nguyễn Thành T vào ngày 08/7/2011, bị cáo đã biết đây là văn bằng giả do bị cáo không theo học, không thi hết môn nhiều môn học và không tham dự kỳ thi tốt nghiệp do Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức để có bằng tốt nghiệp nhưng đến tháng 5/2023 bị cáo vẫn sử dụng văn bằng giả này để nộp hồ sơ xin cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ thì bị phát hiện.

Đối với Lê Hùng M là người nộp hồ sơ cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch giúp bị cáo T, qua điều tra xác định anh M không biết văn bằng T đưa là giả nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Lê Hùng M.

Đối với người tên “Đ” nhận tiền làm văn bằng giả cho bị cáo, do bị cáo khai không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.

Cáo trạng số 144/CT-VKSNK ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt BLHS 2015).

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản như nội dung cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T số tiền từ 35.000.000đồng đến 40.000.000đồng.

Bị cáo Nguyễn Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo với mong muốn hoàn thiện bản thân về mặt tri thức, chứ không có ý làm hại cá nhân nào nên đã có hành vi sai trái với pháp luật là dùng văn bằng giả để thực hiện các mong muốn và sự tiến thân của bị cáo một cách không được sự thừa nhận của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận: Khi nhận Bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ máy tính, số hiệu: 00645299; số vào số cấp bằng: 174/MT, do TS. Tạ Xuân Tề - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ký tên, cấp cho Nguyễn Thành T vào ngày 08/7/2011, bị cáo đã biết đây là văn bằng giả do bị cáo không theo học, không thi hết môn nhiều môn học và không tham dự kỳ thi tốt nghiệp do Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức để có bằng tốt nghiệp nhưng đến tháng 5/2023 bị cáo T vẫn sử dụng văn bằng giả này để nộp hồ sơ xin cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cần Thơ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Tại phiên tòa, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015, bị cáo hiện là thu nhập chính nuôi con nhỏ dưới 03 tuổi, bị cáo T với mong muốn hoàn thiện bản thân về mặt tri thức, chứ không có ý làm hại cá nhân nào - các tình tiết này là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét thấy Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Bị cáo đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi sử dụng văn bằng giả không qua học tập, thi cử là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, hành vi này cần có mức hình phạt tương xứng, có như vậy mới giúp bị cáo sửa đổi bản thân, biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo chưa có tiền sự, bị cáo có một tiền án về tội cướp giật tài sản nhưng đã được xóa án tích nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với toàn bộ diễn biến hành vi bị cáo thực hiện.

[6] Đối với Lê Hùng M là người nộp hồ sơ cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch giúp bị cáo, qua điều tra xác định anh M không biết văn bằng bị cáo đưa là giả nên không xem xét xử lý.

[7] Đối với người tên “Đ” nhận tiền làm văn bằng giả cho bị cáo, do bị cáo khai không rõ lai lịch nên kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành T 35.000.000đồng (ba mươi lăm triệu đồng)

  1. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Ninh Kiều;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hồng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội làm giả con dấu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger