TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Giao
Ông Trịnh Xuân Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 27/8/2024 đối với bị cáo:
Hoàng Duy K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/7/1993 tại Hòa Bình. Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2023;
Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Không có.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại ngoại đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Bị hại:
- + Anh Bùi Minh D, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Trú tại: Tổ E, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- + Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1997(vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Trú tại: Tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình
- + Anh Lương Anh D1, sinh năm 1986; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Trú tại: Tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
Người làm chứng: Anh Nguyễn Huy B, sinh năm 1987 (vắng mặt, không có lý do).
Trú tại: Tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Duy K, sinh năm 1993, trú tại: tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình và các anh Bùi Minh D, sinh năm 1994, Nguyễn Trung T2, sinh năm 1996, Lương Anh D1, sinh năm 1985, cùng trú tại: thành phố H, tỉnh Hòa Bình có mối quan hệ quen biết nhau trong khi làm việc tại quán Bar V địa chỉ tại phường H, thành phố H.
Khi sắp đến dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn các anh D1, D, T2 có nhu cầu đổi mệnh giá tiền mừng tuổi nên đã đặt vấn đề nhờ Hoàng Duy K đổi tiền với các mệnh giá khác nhau gồm loại 50.000 đồng và loại 100.000 đồng. Khi nghe D, T2, D1 có nhu cầu đổi tiền để mừng tuổi. Hoàng Duy K đưa ra thông tin là có anh Nguyễn Huy B, sinh năm 1987, trú tại: tổ A, phường H, thành phố H (là họ hàng) công tác tại Ngân hàng (A) huyện C, tỉnh Hòa Bình có thể đổi được tiền với các mệnh giá khác nhau.
Sau khi được anh B đồng ý, K dùng điện thoại nhắn tin qua ứng dụng Messenger điện thoại liên lạc với các anh D, T2, D1 yêu cầu chuyển khoản cho K vào số tài khoản 60991057 mở tại Ngân hàng (V1) chi nhánh tại Hòa Bình chủ tài khoản Hoàng Duy K.
Đến ngày 06/02/2024 (tức ngày 27 tháng 12 năm 2023 âm lịch giáp tết), thì anh Nguyễn Trung T2 chuyển khoản cho K số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng, anh Lương Anh D1 chuyển khoản cho K: 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
Ngày 07/02/2024 (tức ngày 28 tháng 12 năm 2023 âm lịch giáp tết) thì anh Bùi Minh D chuyển khoản cho K số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Sau từng lần nhận được tiền, K không chuyển tiền cho anh Nguyễn Huy B để đổi tiền mện giá mà ngay trong sáng ngày 07/02/2024 sau khi đã nhận tiền chuyển khoản của anh T2, anh D1 (ngày 06/02/2024) và chưa nhận tiền của anh D thì K đã sử dụng toàn bộ số tiền 8.000.000 đồng để mua vật dụng đồ câu cá, trả nợ. Khi nhận khoản tiền chuyển khoản ngày 07/02/2024 (chiều 28 âm lịch chuẩn bị tết Giáp T3) K vẫn không chuyển khoản cho anh B để đổi tiền cho các bị hại mặc dù giữa K và anh B đã thỏa thuận phải chuyển tiền trước anh B mới đổi tiền giúp. K cũng chi tiêu cá nhân hết số tiền đã nhận chuyển khoản này của D, rồi bỏ đi làm thuê chỗ khác đến nay vẫn không có tiền để trả lại cho các bị hại Bùi Minh D, Nguyễn Trung T2, Lương Anh D1.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H không thu giữ vật chứng gì của bị cáo, bị hại liên quan đến vụ án.
Bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 08/8/202 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Hoàng Duy K về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận tội, không kêu oan. Tuy nhiên vẫn loanh quanh không thừa nhận hành vi chiếm đoạt phát sinh thời điểm sáng ngày 07/02/2024 mà chỉ nhận là dùng tạm để tiêu có sẽ trả mặc dù không liên lạc lại với các bị hại để xác nhận thỏa thuận lại là vay tiền mà lặng lẽ chấm dứt liên lạc và bỏ đi làm nơi khác làm việc, không được sự chấp thuận cho nợ tiền của các bị hại, cũng chưa trả lại tiền các bị hại đến thời điểm hiện tại. Bị cáo khai mâu thuẫn với lời khai của anh B tại giai đoạn điều tra về nội dung thỏa thuận với anh B về phương thức giao tiền để đổi tiền. Cho thấy sự không thành khẩn ăn năn của bị cáo đối với hành vi của bản thân, còn bao biện về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Ý kiến của các bị hại: Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời đề nghị: Buộc bị cáo Hoàng Duy K phải bồi thường thiệt hại số tiền đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của các bị hại. Cụ thể: Bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Trung T2 số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng, anh Lương Anh D1 số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng, anh Bùi Minh D số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Về trách nhiệm hình sự các bị hại đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội từ 02 lần trở lên. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cáo trạng Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn mặc dù được kiểm sát viên giải thích, hội đồng xét xử đã phân tích hậu quả pháp lý của việc thành khẩn khai báo nhưng bị cáo vẫn quanh co trong việc khai báo về hành vi nên đề nghị không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Đề nghị:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Duy K phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, xử phạt bị cáo Hoàng Duy K từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 648; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Hoàng Duy K phải bồi thường thiệt hại số tiền đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của các bị hại. Cụ thể: Bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Trung T2 số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng, anh Lương Anh D1 số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng, anh Bùi Minh D số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Các ý kiến tranh luận:
Bị cáo nhận thấy đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh là đúng, về mức hình phạt đề nghị áp dụng cho bị cáo không có ý kiến gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
Không ai có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức về hành vi của mình là sai, sau này sẽ không tái phạm. Kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/02/2024 bị cáo lạm dựng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Trung T2 (sau khi chuyển khoản vào tài khoản của K) số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng và anh Lương Anh D1 số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng; Ngày 07/02/2024 bị cáo lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của anh Bùi Minh D số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Lợi dụng việc các bị hại Bùi Minh D, Nguyễn Trung T2, Lương Anh D1 tín nhiệm chuyển khoản nhờ bị cáo đổi tiền mệnh giá để tết mừng tuổi, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng, sau đó bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật. Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù là đúng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà bị cáo đã gây ra.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại phiên tòa còn khai báo quanh co chưa thể hiện sự hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H không thu giữ vật chứng nào của bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 648; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự cần buộc bị cáo Hoàng Duy K phải bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Trung T2 số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng, anh Lương Anh D1 số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng, anh Bùi Minh D số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 648; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Duy K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Duy K 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Hoàng Duy K phải bồi thường thiệt hại số tiền cho anh Nguyễn Trung T2 số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng, anh Lương Anh D1 số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng, anh Bùi Minh D số tiền: 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự.
Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đà Giang |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 12 tháng tù
