|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024 V/v “Ly hôn, nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Thành Thật.
- Ông Huỳnh Văn Nam
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 284/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 414/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: số B, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: số B, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo nội dung vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà H chung sống với nhau năm 2011 và có đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng dần về sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà Huỳnh Thị Ngọc H đam mê cờ bạc, đã từ mặt gia đình và bỏ nhà đi từ năm 2018 đến nay. Nay tình cảm không còn yêu cầu ly hôn với bà H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 19/01/2012 và Nguyên Thị Kim A, sinh ngày 24/10/2016. Hiện hai con chung đang sinh sống với ông T. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc H vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông T được ly hôn bà H.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 19/01/2012 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 24/10/2016. Hiện hai con chung đang sinh sống với ông T. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, để ổn định tinh thần, sinh sống và học tập của các cháu nên đề nghị giao các cháu cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản xác minh, bản sao giấy khai sinh của Hữu T1, Kim A, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T với bà H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng ly hôn từ năm 2018 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên xin được ly hôn với bà H. Bà H vắng mặt không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng bà H vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho ông T tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà ly thân đã lâu, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông T yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
[2.2] Về con chung: Xét, từ khi ly thân bà H không cùng ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét yêu cầu của ông T, nguyện vọng của các cháu và để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T1, cháu A cho ông T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Ông Nguyễn Minh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Huỳnh Thị Ngọc H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Minh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001986 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Minh T. Ông Nguyễn Minh T được ly hôn bà Huỳnh Thị Ngọc H.
- Về con chung:
- Ông Nguyễn Minh T và bà Huỳnh Thị Ngọc H có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 19/01/2012 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 24/10/2016, hiện các cháu đang chung sống với ông T.
- Giao cháu 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1 và Nguyễn Thị Kim A cho ông Nguyễn Minh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Nguyễn Minh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Huỳnh Thị Ngọc H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001986 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thành Thật Huỳnh Văn Nam |
Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T yêu cầu ly hôn bà H
