|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 123/2024/DS-PT Ngày 24/6/2024 V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất". |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Ông Trần Hoài Sơn
Bà Trần Thị Bé
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2024/DSPT ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 179/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Võ Đình D - Sinh năm: 1973 - Địa chỉ: Tổ A thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- * Bị đơn: Ông Đỗ Hữu S - Sinh năm: 1969 - Địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đỗ Hữu T - Sinh năm: 1949 và bà Đặng Thị K - Sinh năm: 1948 - Địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Bà K có mặt, ông T vắng mặt).
- Ông Đỗ Hữu C - Sinh năm: 1971 - Địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị T1 - Sinh năm: 1972 - Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Ông Đỗ Hữu Q - Sinh năm: 1979 - Địa chỉ: Tổ A, thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị M - Sinh năm: 1982 – Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- - Người kháng cáo: Ông Võ Đình D, là Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14/07/2022 cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Đình D và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Cha tôi (ông Võ Đình D) là ông Võ D1 có khai hoang, quản lý sử dụng thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18 có địa chỉ tại tổ A, thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng diện tích 929m² được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H799562 vào ngày 5/3/1996.
Sau khi cha tôi chết, tôi đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với thửa đất và tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 31/8/2010, tôi được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BC 782684, diện tích là 795m² tại thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18, có địa chỉ tại: Tổ A, thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Diện tích giảm là do năm 2008, nhà nước có thu hồi một phần diện tích đất để mở rộng đường ĐH2).
Thửa đất số 190 của gia đình tôi đã quản lý sử dụng từ năm 1976 cho đến nay có cạnh ranh giới phía đông bắc liền kề với thửa đất số 191 của ông Đỗ Hữu T (cha ông Đỗ Hữu S) và cạnh ranh giới đông nam giáp với thửa đất 189 của ông Đỗ Hữu L (con trai ông Đỗ Hữu L tên là Đỗ Hữu T2 đang quản lý và sử dụng trực tiếp). Cạnh ranh giới của thửa đất 190 và 191 là một bờ đất cao đường thẳng nối dài từ mặt tiền giáp với đường ĐH2 đến hết đất của 02 thửa đất.
Nguyên hiện trạng thửa đất của gia đình tôi và gia đình ông T đều có phần đất đồi núi phía sau thửa đất. Khoảng năm 2018 - năm 2019, gia đình ông T đã san bằng, cải tạo phần đất đồi phía sau nhà. Đến năm 2020, gia đình ông Đỗ Hữu L (thửa đất 189 liền kề) cũng đã cải tạo, sang bằng đồi đất phía sau nhà. Còn phần đồi đất của gia đình tôi chưa san bằng vì trên đồi đất đó có 02 phần mộ của người thân trong gia đình tôi. Đến khi dự án tuyến đường ĐH2 mở, đi qua một phần diện tích đất của gia đình tôi và dự án đền bù cho gia đình tôi về 02 phần mộ đó vào năm 2020.
Đến tháng 6/2021, sau khi 02 phần mộ được di dời và đồi đất cao hay sạt lở ảnh hưởng nghiêm trọng đến gia đình tôi nên tôi đã làm đơn xin UBND xã H để cải tạo và san bằng đồi đất. Sau khi được sự đồng ý của UBND xã H về việc cải tạo, gia đình tôi cho xe múc đến san bằng và cải tạo đồi đất. Trước khi thực hiện san lấp, tôi có đánh dấu ranh giới bằng những trụ bê tông theo như hiện trạng ban đầu của 02 thửa đất để tránh trường hợp đồi đất bị san bằng không thể xác định ranh mốc giới liền kề với thửa đất nhà ông T.
Sau khi tôi san bằng đồi đất và thực hiện việc xác định ranh mốc giới bằng trụ bê tông, ông S đã không đồng ý. Ông Đỗ Hữu S đã tự ý cắm cọc làm thay đổi ranh giới, mốc giới giữa hai thửa đất. Bởi Ông S cho rằng, cha ông là ông Đỗ Hữu T đã tặng cho ông S một phần diện tích của thửa đất 191 để quản lý sử dụng. Việc ông S tự xác định ranh mốc giới như vậy là không đúng theo hiện trạng sử dụng lâu nay và cũng như sơ đồ thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho 02 gia đình. Cụ thể, hiện nay phần diện tích đất mà ông S đã tự ý đóng cọc, lấn chiếm sang phần đất của tôi là khoảng 90m² (chiều ngang đất khoảng là 3m; chiều dài khoảng là 30m kéo dài đến hết đường ĐH2).
Không đồng ý với hành vi đóng cọc, rào chắn lấn chiếm đất của ông S nên tôi đã gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Chủ tịch UBND xã H giải quyết việc lấn chiếm đất. Mặc dù, đã nhiều lần trao đổi, thương lượng và cũng đã tiến hành việc hòa giải tại UBND xã H, để cùng nhau giải quyết vấn đề tranh chấp nhưng ông S vẫn không đồng ý trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho tôi. Do đó, việc hòa giải giữa các bên đã diễn ra không thành.
Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Hữu S trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích khoảng 90m² (chiều dài khoảng 30m và chiều ngang khoảng 03m) thuộc thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18 có địa chỉ tại tổ A, thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 782684 vào ngày 31/8/2010 cho ông Võ Đình D. Có giá trị tạm tính khoảng 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Tại phiên toà nguyên đơn ông Võ Đình D thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Đỗ Hữu S trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 51,3m² theo kết quả đo đạc của Trung tâm K1.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ Hữu S trình bày:
Tôi (ông Đỗ Hữu S) là chủ sử dụng thửa đất số 1019, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng diện tích 243m² được UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BI 032140 cấp ngày 07/03/2012. Nguồn gốc thửa đất trên là do tôi được nhận tặng cho từ cha tôi là ông Đỗ Hữu T trong tổng số 1327m² đất thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 714589 cho hộ ông Đỗ Hữu T).
Giữa thửa đất tôi đang sử dụng có phần ranh giới liền kề giáp với phần đất của ông Võ Đình D. Trong thời gian ông D múc đất cải tạo mặt bằng mà không để lại mốc giới rồi tự ý chôn trụ, lấn đất mà không qua sự đo đạc lại. Các bên chưa thống nhất mốc giới đất nhưng ông D vẫn trồng trụ bê tông và làm đơn gửi đến UBND xã H đã giải quyết. Qua 02 lần UBND xã H và địa chính xã hòa giải và tiến hành đo đạc lại. Tôi có nộp đến Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K1 để yêu cầu tiến hành đo đạc. Tuy nhiên, khi thực hiện việc đo đạc thì ông D không hợp tác mà bỏ đi làm. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì tôi không đồng ý.
* Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Hữu T, bà Đặng Thị K, ông Đỗ Hữu C, ông Đỗ Thị T1, ông Đỗ Hữu Q, bà Đỗ Thị M không có ý trình bày.
* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- - Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Áp dụng: Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai 2013.
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Đình D về việc yêu cầu ông Đỗ Hữu S trả lại phần diện tích 51,3m² (Có sơ đồ kèm theo).
- 2. Về chi phí tố tụng:
- Đối với số tiền: 3.000.000 đồng tiền xem xét, thẩm định tại chỗ. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn ông Võ Đình D phải chịu (đã thu và đã chi).
- Đối với số tiền: 6.824.000 đồng chi phí đo đạc theo phiếu thu ngày 24/04/2023. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn ông Võ Đình D phải chịu (đã thu và đã chi).
- Đối với số tiền 9.000.000 đồng chi phí định giá theo phiếu thu ngày 06/11/2023. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn ông Võ Đình D phải chịu (đã thu và đã chi).
- 3. Về án phí:
- Ông Võ Đình D phải chịu: 34.472.200 đồng nhưng được trừ vào số tiền 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự ông Võ Đình D đã nộp theo biên lai thu số 0004615 ngày 12/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Ông Võ Đình D còn phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là: 29.472.200 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyên đơn là ông Võ Đình D có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, ông D đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình D.
* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
- + Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Đình D, Giữ nguyên nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai ông Đỗ Hữu T, ông Đỗ Hữu C và ông Đỗ Hữu Q đến tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng các đương nêu trên vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên.
* Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Võ Đình D giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D và buộc ông Đỗ Hữu S phải trả lại phần đất có diện tích 51,3m². Xét kháng cáo của ông Võ Đình D thì thấy:
[2] Về nguồn gốc đất:
[2.1] Nguồn gốc thửa đất số 624, tờ bản đồ số 4 (Nay là thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18) với diện tích 929m² tại tổ A thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do ông Võ D1 khai hoang và ngày 5/3/1996 đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H799562 đứng tên ông Võ Dậu. Năm 2008, nhà nước có thu hồi một phần diện tích đất để mở rộng đường ĐH2 sau đó ông D1 tặng cho ông Võ Đình D và ngày 31/08/2010 đã được UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 782684 đứng tên ông Võ Đình D với diện tích 795m². Ngày 20/3/2018 UBND huyện H ra Quyết định số 491/QĐ-UBND về việc thu hồi 71,8m², như vậy diện tích còn lại của thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18 là 723,2m².
[2.2] Thửa đất số 1019, tờ bản đồ số 18 (Nay là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 18) với diện tích 1327m² tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 714589 ngày 14/11/2011 cho hộ ông Đỗ Hữu T. Sau đó ông Đỗ Hữu T tặng cho ông Đỗ Hữu S một phần diện tích đất và ngày 07/03/2012 được UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 032140 đứng tên ông Đỗ Hữu S với diện tích 243m². Ngày 26/10/2020 UBND huyện H ra quyết định số 2408/QĐ-UBND về việc thu hồi phần đất có diện tích 151,30m² (trong đó đất ở 103,70m², đất trồng cây hàng năm khác 47,60m²) của ông Đỗ Hữu T để thực hiện dự án tuyến đường DH2. Như vậy Thửa đất theo giấy chứng nhận cấp cho ông Đỗ Hữu T (bao gồm cả phần diện tích đất 243m² đã tặng cho ông Đỗ Hữu S) có diện tích còn lại là 1.175,7m².
[3] Căn cứ kết quả đo đạc của Trung tâm K1 ngày 19/5/2023 được thực hiện với sự chứng kiến của ông D và ông S thì diện tích đất tranh chấp giữa các đương sự là 51,3m² nằm ở phần ranh giới phía sau của hai thửa đất 190 và 191 tờ bản đồ số 18.
- - Đối với thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18 của ông Võ Đình D có diện tích 1027,8m² (không kể diện tích đất tranh chấp 51,3m²) có chiều dài cạnh phía Nam - mặt đường DH2 (cũ) là 20,89m.
- - Đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 18 của ông Đỗ Hữu T có diện tích 1.352m² (bao gồm cả diện tích đất tranh chấp 51,3m²) có chiều dài cạnh phía Nam - mặt đường DH2 (cũ) là 28,09m.
[4] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 714589 ngày 14/11/2011 cấp cho hộ ông Đỗ Hữu T thì thửa đất số 191, tờ bản đồ số 18 có chiều dài phía Nam - mặt đường DH2 (cũ) là 27,6m;
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 782684 cấp ngày 31/08/2010 đứng tên ông Võ Đình D thì thửa đất số 190, tờ bản đồ số 18 có chiều dài phía Nam - mặt đường DH8 là 19,0m.
[5] Đối chiếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 714589 ngày 14/11/2011 cấp cho hộ ông Đỗ Hữu T và kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất có chiều ngang phía Nam dư 0,49m và diện tích đất biến động tăng 177,1m².
Đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 782684 đứng tên ông Võ Đình D và kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất có chiều ngang phía Nam dư 1,89m và diện tích đất biến động tăng 304,6m².
Như vậy, không có việc tranh chấp ranh giới cạnh phía Nam giữa thửa đất cấp cho ông T và thửa đất cấp cho ông D nên HĐXX xác định ranh giới cạnh phía Nam giữa thửa đất của ông T và thửa đất của ông D chính là điểm tiếp giáp 02 thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 714589 ngày 14/11/2011 cấp cho hộ ông Đỗ Hữu T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 782684 ngày 31/08/2010 cấp cho ông Võ Đình D.
[6] Đối với cạnh phía Tây (phía sau) của thửa đất cấp cho ông Đỗ Hữu T có chiều dài 21m; theo kết quả đo đạc hiện trạng có chiều dài 20,76m là không có sự thay đổi, do vậy HĐXX xác định ranh giới phía sau giữa 02 thửa đất chính là điểm tiếp giáp 02 thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 714589 ngày 14/11/2011 cấp cho hộ ông Đỗ Hữu T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 782684 ngày 31/08/2010 cấp cho ông Võ Đình D.
Theo sơ đồ 64/CP [BL 167] cũng như những lần đo đạc để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Đỗ Hữu T, ông Võ Đình D và ông Đỗ Hữu S thì ranh giới giữ 02 thửa đất là một đường thẳng nên HĐXX xác định ranh giới của 02 thửa đất chính là đường thẳng từ điểm phía trước đến điểm phía sau như đã nhận định trên và chính là đường ranh giới theo Giấy chứng nhận giữ 02 thửa đất cấp cho hộ ông Đỗ Hữu T và ông Võ Đình D là hoàn toàn phù hợp.
[7] Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa ông D xác định ranh giới giữa 02 thửa đất là một đoạn thẳng bên ngoài còn đoạn sau là đường gấp khúc từ đó yêu cầu ông S phải trả lại diện tích đất 51,3m², nhưng như đã nhận định như trên HĐXX xác định phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T là phù hợp nên không chấp nhận yêu cầu của ông D như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ.
Từ những nhận định trên HĐXX xét thấy không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Đình D và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng như lời trình bày của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà.
[8] Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Võ Đình D phải chịu là 20.000.000 đồng + (361.805.000 đồng x 4%) = 34.472.200 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Võ Đình D đã nộp là 5.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0004615 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Ông Võ Đình D còn phải nộp tiếp số tiền là 29.472.200 đồng.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Võ Đình D phải chịu là 300.000 đồng.
[9] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng; chi phí thẩm định giá tài sản là 9.000.000 đồng và chi phí đo đạc 6.824.000 đồng, tổng cộng là 18.824.000 đồng ông Võ Đình D phải chịu. (Đã nộp và chi xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 296 và Điều khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai 2013;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Đình D. Giữ nguyên nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình D về việc yêu cầu ông Đỗ Hữu S trả lại phần diện tích 51,3m². (Có sơ đồ kèm theo).
2. Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm ông Võ Đình D phải chịu là 34.472.200 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Võ Đình D đã nộp là 5.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0004615 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Ông Võ Đình D còn phải nộp tiếp số tiền là 29.472.200 đồng.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sự phúc thẩm ông Võ Đình D phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Võ Đình D đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000946 ngày 06/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng; chi phí thẩm định giá tài sản là 9.000.000 đồng và chi phí đo đạc 6.824.000 đồng, tổng cộng là 18.824.000 đồng ông Võ Đình D phải chịu. (Đã nộp và chi xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Dũng |
Bản án số 123/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 123/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Đình D
