|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 123/2024/HS-ST
Ngày 23 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Dịu - Giáo viên Trường THCS Võ Trường Toản.
- Bà Nguyễn Thị Triều My - Chuyên viên Phòng Y tế thành phố.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Công H, sinh năm 2004 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Tổ C, khu phố F, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Sinh viên: trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Công B, sinh năm 1972 và bà Trương Thị Thu H1, sinh năm 1981; có 01 em ruột sinh năm 2011; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22/02/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2023 trong một vụ án khác. Có mặt.
- Nguyễn Dương Minh Đ, sinh năm 2004 tại tỉnh Ninh Thuận; thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Sinh viên: trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1977 và bà Dương Thị Thu S, sinh năm 1977; có có 01 em ruột, sinh năm: 2014; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/11/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 31/8/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số D, T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tổ H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê: trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1982 và bà Huỳnh Thị S1, sinh năm 1985; có 01 em ruột, sinh năm: 2016; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/11/2023 cho đến nay. Có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T: Chị Huỳnh Thị S1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số D, T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T: Bà Tán Lê Thảo D – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H: Ông Nguyễn Ngọc Đ1 – Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn luật sư tỉnh Đ. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Dương Minh Đ: Bà Trần Thị Kim T1 – Luật sư thuộc Văn phòng L1 – Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1977; thường trú: Số A, đường Đ, tổ D, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1977; thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.
- + Chị Dương Thị Thu S, sinh năm 1977; thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.
- + Anh Nguyễn Công B, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ C, khu phố F, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Có mặt.
- + Anh Nguyễn Quốc D1, sinh năm 2003; địa chỉ: Số A đường Đ, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Công H và Nguyễn Dương Minh Đ là bạn bè quen biết. Bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T và Nguyễn Công H có quan hệ tình cảm với nhau.
Ngày 11/6/2023, T và H cho anh Nguyễn Quốc D1 vay số tiền 1.000.000 đồng, tiền lời mỗi ngày là 30.000 đồng và hẹn đến ngày 05/7/2023 sẽ trả cả tiền gốc và lời. Đến hẹn, anh D1 mới trả cho T và H được số tiền 600.000 đồng. T yêu cầu anh D1 phải trả thêm số tiền 1.350.000 đồng nhưng anh D1 không đồng ý, vì thế giữa H, T và anh D1 xảy ra mâu thuẫn. H và T đã hai lần tìm đến nhà của anh D1 để đòi nợ nhưng không được. Ngày 10/9/2023, H, T và Đ đến nhà của anh D1 tại địa chỉ số A đường Đ, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để tìm gặp anh D1 nhưng không gặp nên H sử dụng facebook của T nhắn tin chửi anh D1 thì anh D1 hăm dọa chặn đánh H và T nên cả ba đi về. Trên đường về, Đ hỏi H “có đập kính với bẻ gương không” thì H nói để xem thế nào. Ngày 11/9/2023, H tiếp tục nhắn tin đòi nợ anh D1 nhưng không được, anh D1 còn đe dọa đánh H. Do đó, H nảy sinh ý định tạt sơn và đập kính xe của nhà anh D1 cho bõ tức. Lúc này, T gặp Đ và H tại phòng trọ của Đ, H tại khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, H nói cho T và Đ biết sẽ tạt sơn và đập kính xe nhà anh D1 thì Đ và T đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 13/9/2023, H nhắn tin cho T trên ứng dụng messenger của F với nội dung, H đi mua sơn về để tạt vào xe của nhà anh D1 thì T nhắn tin cho H “đập kính”, ý T nói với H là đập kính xe của nhà D1. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, H và Đ đi đến một cửa hàng sơn tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mua một hộp sơn màu đỏ, rồi Đ đưa cho H một ca nhựa để H đổ sơn, Đ điều khiển xe môtô biển số 85H1-131.08 chở H đến nhà của anh D1 tại số A đường Đ, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, H và Đ nhìn thấy phía trước cửa nhà có đỗ xe ôtô tải biển số: 51C-980.65 của anh Nguyễn Quốc V (cha của anh D1) nên Đ dừng xe để H đi bộ đến trước đầu xe tải và tạt sơn lên kính, đầu xe ô tô tải và cánh cổng nhà anh D1 rồi H lên xe để Đ chở đi. Khoảng 10 phút sau, Đ chở H quay lại, H nhặt một cục đá ném bể kính chắn gió phía trước xe ôtô tải biển số 51C-980.65 rồi cả hai bỏ đi. Cùng ngày, H nhắn tin cho T để thông báo cho T biết đã tạt sơn và đập kính xe của anh V (cha của D1).
Ngày 14/9/2023, anh Nguyễn Quốc V đến Công an phường T, thành phố D trình báo sự việc. Cùng ngày, Công an phường T mời Thư đến Công an phường làm việc. Tại công an phường T đã khai nhận có hành vi bàn bạc với Đ và H để đập kính và tạt sơn vào xe của nhà D1. Ngày 15/9/2023, H và Đ đến Công an phường T đầu thú.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 ca nhựa dùng để đựng sơn.
- - 01 cục gạch bê tông không rõ hình dạng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 20 Ultra 5G, số I: 355857113788826, sim số 0963.025.379.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K30 5G, đời máy: M2001G7AE, sim 1: 0364.058.039, sim 2: 0377.831.599.
- - 01 xe môtô nhãn hiệu Winner biển số: 85H1-131.08, số khung RLHKC4406NY015998, số máy KC34E5021635.
* Kết luận định giá tài sản số 170 ngày 05/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận: Kính chắn gió phía trước của xe ô tô tải hiệu Kia, trọng tải 1.4 tấn, biển số 51C-980.65, số máy JT603021, số khung B27TAC062927, trị giá 2.700.000 đồng.
Ngày 08/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Công H và đồng phạm về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số: 114/CT-VKS-DA ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Công H và đồng phạm về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm 0 khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Công H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
- - Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Minh Đ từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
- - Khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M Thư từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
* Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 cái ca nhựa dùng để đựng sơn; 01 cục gạch bê tông không rõ hình dạng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 20 Ultra 5G, số I: 355857113788826, điện thoại di động nhãn hiệu Redmi K30 5G, đời máy: M2001G7AE của bị cáo H và T liên lạc với nhau để trao đổi về việc đập kính nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với sim số 0963.025.379; 0364.058.039; 0377.831.599 cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe môtô nhãn hiệu Winner, biển số: 85H1-131.08, số khung RLHKC4406NY015998, số máy KC34E5021635 chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn N (cha của Đ), ông N cho Đ mượn xe để đi học và không biết Đ sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe cho ông N.
* Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Quốc V. Ông V không yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H trình bày: Thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Tuy nhiên, khi lượng hình cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Dương Minh Đ trình bày: Thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Tuy nhiên trong vụ án này hành vi phạm tội của bị cáo Đ chỉ dừng lại ở mức dùng xe mô tô chở bị cáo H đi mua sơn, đi tới nhà bị hại để H thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Đ chỉ tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện hành vi thuận lợi hơn, giúp sức về mặt tinh thần không đáng kể. Bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T trình bày: Thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa hôm nay xác định được bị cáo có tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng. Đồng thời tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin được hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 13/9/2023, Nguyễn Công H, Nguyễn Dương Minh Đ và Nguyễn Ngọc Minh T có hành vi bàn bạc với nhau mua sơn để tạt kính và dùng đá bê tông đập kính chắn gió phía trước xe ô tô tải, biển số: 51C-980.65, trị giá 2.700.000 đồng của anh Nguyễn Quốc V, tại số A đường Đ, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Như vậy, hành vi của Nguyễn Công H, Nguyễn Dương Minh Đ và Nguyễn Ngọc Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 114/CT - VKS ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Về nhận thức các bị cáo hoàn toàn biết hành vi cố ý làm hư hỏng đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; các bị cáo Đ và T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Công H có ông, bà ngoại là người có công với cách mạng. Các tính tiết nói trên là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu. Bị cáo Đ và bị cáo T có nhân thân tốt, bị cáo H hiện đang là sinh viên, bị cáo T khi phạm tội là người chưa thành niên nên khả năng nhận thức pháp luật có phần hạn chế.
[8] Về hình phạt:
- Hình phạt chính.
+ Xét bị cáo Nguyễn Quốc H2 có nhân thân xấu, bị cáo là người chủ động đề xuất với các bị cáo khác việc thực hiện hành vi phạm tội đồng thời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng xúi dục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo H2. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
+ Bị cáo Nguyễn Dương Minh Đ, Nguyễn Ngọc Minh T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, bị hại có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú. Bị cáo Đ hiện đang là sinh viên không có thu nhập nên không áp dụng quy định khấu trừ một phần thu nhập khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T là người chưa thành niên, do áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nên căn cứ Khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử không áp dụng quy định khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù và hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 cái ca nhựa dùng để đựng sơn; 01 cục gạch bê tông không rõ hình dạng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note Ultra 5G, số I: 355857113788826, điện thoại di động nhãn hiệu Readmi K30 5G, đời máy: M2001G7AE của bị cáo H2 và T liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với sim số 0963.025.379; 0364.058.039; 0377.831.599 cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe môtô nhãn hiệu Winner, biển số: 85H1-131.08, số khung RLHKC4406NY015998, số máy KC34E5021635 chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn N (cha của bị cáo Đ), ông N cho Đ mượn xe để đi học và không biết Đ sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe cho ông N là phù hợp quy định của pháp luật.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận. Về mức hình phạt đối với bị cáo T là phù hợp, mức hình phạt đối với bị cáo Đ và bị cáo H2 là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[12] Quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
[13] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ2 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Dương Minh Đ, Nguyễn Ngọc Minh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 56, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 07 (bảy) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án hình sự số 57/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo phải chấp hành cho cả 02 bản án là 04 (bốn) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 36; Điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Minh Đ 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 36; Điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương nhận được quyết định thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 56, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 cái ca nhựa dùng để đựng sơn; 01 cục gạch bê tông không rõ hình dạng ; sim số 0963.025.379, 0364.058.039, 0377.831.599.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note Ultra 5G, số I: 355857113788826, điện thoại di động nhãn hiệu Readmi K30 5G, đời máy: M2001G7AE.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2024.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Dương Minh Đ, Nguyễn Ngọc Minh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Minh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý làm hư hỏng tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn CÔng H cùng đồng phạm phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản
