TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-ST
Ngày 19-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Trúc Hoa
Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Huy Tuấn A, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2006 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 05 tháng 09 ngày), nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Huy D và bà Vũ Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- + Tại Quyết định số 02/2022/QĐ-TA ngày 20/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Phạm Huy Tuấn A trong thời hạn 18 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản.
- + Ngày 18/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Huy Tuấn A về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/6/2024, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Huy Tuấn A: Bà Nguyễn Thị Thu T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H, có mặt.
Bị hại: Anh Trần Hữu T1, sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 2002, nơi cư trú: Tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 04/02/2024, Phạm Huy Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu đen trắng, không gắn Biển kiểm soát chở Nguyễn Hữu T2, sinh năm 2002; nơi cư trú: tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng di chuyển đi theo đường T hướng từ Cầu N về Ngã 5 K. Tuấn A điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 60km/h. Khi đi đến đoạn khu vực gần cửa hàng T3 ở số C đường T, phường T, quận K thì Tuấn A quay mặt sang trái nhìn về phía chiều đường ngược lại thấy 01 xe môtô được độ chế đi về hướng cầu N. Tuấn A nói với T2 “Xe kia nó cũng có đèn gầm như xe mình kìa”. Ngay khi Tuấn A quay lại nhìn về hướng trước mặt thì Tuấn A thấy anh Trần Hữu T1, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ T, phường T, quận K điều khiển xe đạp điện màu xanh đang sang đường, đầu xe đạp điện hướng về vỉa hè bên phải chiều đường của Tuấn A. Lúc này khoảng cách từ xe của Tuấn A điều khiển đến vị trí xe đạp điện do anh T1 điều khiển khoảng 02 đến 03m, Tuấn A đã bóp phanh tay phải và đánh lái xe sang bên trái. Nhưng do khoảng cách quá gần và đang điều khiển xe đi tốc độ cao nên xe của Tuấn A vẫn trượt về phía trước và đâm thẳng vào phần giữa bên phải xe đạp điện, các phương tiện bị đổ trượt về vỉa hè bên phải trước nhà số C T. Hậu quả, Tuấn A và anh T1 bị thương tích phải điều trị tại Bệnh viện K, các phương tiện hư hỏng.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 361/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 16 tháng 05 năm 2024 của Trung tâm P kết luận: “Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Hữu T1 tại thời điểm giám định là 91%. Các thương tích có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 359/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 10 tháng 05 năm 2024 của Trung tâm P kết luận: “Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Huy Tuấn A tại thời điểm giám định là 07%. Các thương tích có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày, có thể có góc cạnh cứng gây nên”.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường trước cửa số nhà C T, phường T, quận K giao nhau với đường T. Đường Trần Tất V được trải nhựa bằng phẳng rộng 12 mét, được tổ chức giao thông đường hai chiều có vạch kẻ đường màu vàng không liên tục ở giữa đường để phân chia chiều đường thành hai chiều xe chạy, hai bên có vỉa hè rộng 05m. Đường Thi Đ trải nhựa bằng phẳng rộng 08 mét. Trên hiện trường để lại các dấu vết gồm: thứ nhất là vết cày xước số 1 không liên tục dài 18,2m, điểm đầu vết cày cách mốc cố định là 8,7m, cách mép đường làm chuẩn là 3m, điểm cuối vết cày trùng với trục bánh sau xe đạp điện. Thứ hai là vết cày xước số 2 không liên tục dài 9,6m, điểm đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn là 1,8m, cách mốc cố định là 6,7m, điểm cuối vết cày trùng với bàn để chân sau bên trái xe mô tô không có Biển kiểm soát. Thứ ba là hai vết máu, vết 1 có kích thước 40x50cm nằm trên vỉa hè cách mép đường làm chuẩn là 1,15m và tâm vết máu cách trục bánh xe trước xe mô tô không có Biển kiểm soát là 2,8m, cách mốc cố định 5,8m. Vết 2 có kích thước 50x20cm, tâm vết máu cách đường làm chuẩn là 0,4m và cách tâm trục bánh xe trước của xe mô tô không có Biển kiểm soát là 1,1m, cách mốc cố định 1,1m. Thứ tư là xe môtô không có Biển kiểm soát nằm đổ nghiêng sang bên trái, đầu xe hướng về phía cầu N, đuôi xe hướng về phía ngã 5 K, tâm trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn là 1,4m, cách mép cố định là 9,3m, tâm trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn là 0,8m và cách tâm trục bánh xe trước xe đạp điện là 4,75m, cách mốc cố định là 9,7m. Thứ năm là xe đạp điện nằm đổ nghiêng sang bên phải, đầu xe hướng về phía cầu N, đuôi xe hướng về phía ngã 5 K, tâm trục bánh xe trước cách mép đường làm chuẩn là 1,35m, cách mốc cố định là 14,2m, tâm trục bánh xe sau cách mép đường làm chuẩn là 14,48m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện: Xe mô tô nhãn hiệu Nouvo Yamaha không có Biển kiểm soát có các dấu vết: ốp nhựa mặt nạ đầu xe bị vỡ khuyết, rơi rụng, cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bị bung bật khỏi vị trí lắp ráp ban đầu kích thước 30x42cm; ốp nhựa chắn bùn bánh trước bị nứt vỡ nhựa, đầu ngoài có vết mài vệt nhựa kích thước 25x7cm; mặt lăn bánh trước có vết trượt xước cao su bề mặt bán tạp chất màu bạc, dạng sơn theo chiều ngược chiều chuyển động của bánh xe; đầu ngoài phanh tay bên trái có vết mài vệt kim loại kích thước 2x1,5cm; yếm xe bên trái bị vỡ khuyết, rơi rụng kích thước 44x30cm; ốp nhựa thân trên bên trái bị nứt vỡ, kích thước 18x9cm và ốp nhựa phía ngoài đèn tín hiệu bên trái phía sau có vết trượt xước nhựa, bám dính tạp chất màu trắng, kích thước 4x3cm. Xe đạp điện màu xanh có các dấu vết: đầu ngoài tay lái bên phải bị mài vệt cao su, kim loại kích thước 03x03cm; bánh xe phía trước bị cong vênh, xô lệch khỏi vị trí ban đầu; bàn đạp bên phải bị cong gập áp sát vào thân xe, chiều từ ngoài vào trong, khung xe liền kề phía trong bị trượt xước mất sơn màu bạc bám dính tạp chất màu đen, kích thước 10x4cm; má yên xe bên phải phía sau bị mài trượt cao su, kích thước 7x2,5cm; đèn tín hiệu phía sau bên phải bị vỡ khuyết nhựa, bề mặt bị mài vệt kích thước 6x4,5cm; ốp nhựa chắn phía sau bị vỡ khuyết nhựa, kích thước 15x6cm và ốp nhựa kim loại phía bên ngoài khung xe bên phải phía sau bị mài vệt, kim loại bám dính tạp chất màu trắng, kích thước 4x4,5cm.
Tại Kết luận giám định số 909/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H: “dấu vết trượt xước mất cao su (màu đen), bám dính tạp chất màu bạc (dạng sơn) theo chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe ở mặt lăn phía bên phải bánh trước xe môtô nhãn hiệu YAMAHA không có Biển kiểm soát, phù hợp với dấu vết cong gập kim loại theo chiều từ phải sang trái ở đùi gắn bàn đạp bên phải và dấu vết trượt xước mất sơn (màu bạc), bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ trên xuống dưới ở khung xe liền kề phía trong trên xe đạp điện. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau”.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 04/2/2024 của Bệnh viện K đối với Trần Hữu T1 thể hiện: “định lượng E (cồn) (máu) là 208.9 mg/dl”; ngày 05/02/2024 đối với Phạm Huy Tuấn A: “định lượng E (cồn) (máu) là 0.0. Mẫu nước tiểu của Phạm Huy Tuấn A âm tính với THC, A1, M, M1.
Tại Công văn số 1847/SGTVT-QLPT&NL ngày 23/4/2024, Sở G cung cấp: “Sở Giao thông vận tải đã tra cứu trên phần mềm quản lý nhưng không tìm thấy thông tin giấy phép lái xe đã cấp cho Phạm Huy Tuấn A sinh ngày 25/8/2006; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng”.
Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKSKS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố bị cáo Phạm Huy Tuấn A về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử bị cáo là không oan. Đối với phần bồi thường dân sự bị cáo nhất trí với cách tính toán số tiền bị hại đưa ra nhưng đề nghị bồi thường mức ½ thiệt hại.
Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:
Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Huy Tuấn A: Từ 42 – 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam.
Về bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cụ thể bị cáo sẽ bồi thường ½ mức yêu cầu của bị hại.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Huy Tuấn A trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo Tuấn A. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đối với bị cáo Tuấn A: Trong vụ án này, bị hại là anh T1 cũng có lỗi khi xét nghiệm máu có cồn trong máu nhưng vẫn tham gia giao thông, khi anh T1 sang đường không đảm bảo an toàn nên đây là vụ án có lỗi hỗn hợp. Thiệt hại không chỉ xảy ra với bị hại mà bị cáo Tuấn A cũng bị ảnh hưởng đến sức khoẻ. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi và phạm tội với lỗi vô ý. Do vậy, hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Về bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cụ thể bị cáo sẽ bồi thường ½ mức yêu cầu của bị hại.
Bị cáo không tranh luận gì với Viện kiểm sát và tại phần nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà, bị hại là anh Trần Hữu T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Hữu T2 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Tại thời điểm xét xử bị cáo đã trên 18 tuổi nên không cần thiết phải đưa người đại diện hợp pháp của bị cáo vào tham gia tố tụng.
- Về nội dung:
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo Tuấn A tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, sơ đồ, bản ảnh xác định hiện trường, biên bản, bản ảnh khám nghiệm phương tiện; Kết luận giám định về dấu vết va chạm, bản ảnh, Kết luận giám định thương tích, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 04/02/2024, tại khu vực trước số nhà C T, thuộc phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Huy Tuấn A đã điều khiển xe mô tô không có Biển kiểm soát khi chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn tại nơi đường giao nhau, vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; Điều 24, khoản 1 Điều 58, điểm b khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ đã va chạm với xe đạp điện do anh Trần Hữu T1 điều khiển làm anh T1 bị thương tích giảm 91% sức khoẻ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt: Tại Công văn số 1847/SGTVT-QLPT&NL ngày 23/4/2024, Sở G cung cấp: “Sở Giao thông vận tải đã tra cứu trên phần mềm quản lý nhưng không tìm thấy thông tin giấy phép lái xe đã cấp cho Phạm Huy Tuấn A sinh ngày 25/8/2006; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng”, bị cáo cũng khai bị cáo chưa được cấp giấy phép lái xe nên bị xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến các quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Tại Quyết định số 02/2022/QĐ-TA ngày 20/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Tuấn A trong thời hạn 18 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 23/12/2023 bị cáo chấp hành xong quyết định trên. Do bị cáo thực hiện hành vi trên khi chưa đủ 18 tuổi nên không tính là tiền sự.
Ngày 18/7/2024, Tuấn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự nên được xem bị cáo có nhân thân không tốt.
Sau khi phạm tội bị cáo Tuấn A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội với lỗi vô ý, bị hại là anh Trần Hữu T1 cũng có lỗi khi điều khiển xe đạp điện tham gia giao thông trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu là 208.9 mg/dl, qua đường không đảm bảo an toàn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tuấn A phạm tội khi 17 tuổi 05 tháng 09 ngày nên cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần áp dụng mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị hại là anh Trần Hữu T1 yêu cầu bị cáo Tuấn A phải bồi thường cho anh số tiền 362.044.000 đồng, bao gồm:
- Chi phí điều trị, tiền thuốc tại Bệnh viện V1 từ ngày 5/2/2024 đến ngày 23/02/2024 là 267.358.000đ và tại Bệnh viện V2 từ ngày 23/02/2024 đến ngày 15/03/2024 là 51.686.000đ. Tổng là 319.044.000 đồng đều có hoá đơn.
- Tiền bồi thường tổn thất tinh thần và tiền thuốc điều trị tại nhà, bồi dưỡng sức khoẻ (không có hoá đơn) là 43.000.000 đồng, bao gồm:
- + Số tiền 15.000.000 đồng là tiền bồi dưỡng sức khoẻ, 12.000.000 đồng tiền mua thuốc ở ngoài về nhà điều trị không có hoá đơn, tổng là 27.000.000 đồng.
- + Tiền tổn thất tinh thần là: 16.000.000 đồng.
Bị cáo Tuấn A không yêu cầu anh T1 phải bồi thường với thương tích của mình. Anh Nguyễn Hữu T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường đối với phần hư hỏng của xe môtô.
Xét: Trong vụ án này, anh T2 không có lỗi khi giao xe cho bị cáo Tuấn A sử dụng, vì khi giao xe Tuấn A nói với anh T2 là bằng tuổi anh T2 và đã có bằng lái, bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường và bị cáo cũng nhất trí bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử xác định bị cáo Tuấn A phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 584, khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 2, điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Hậu quả xảy ra là do lỗi hỗn hợp của cả bị cáo và bị hại (anh T1 điều khiển xe trong tình trạng có nồng độ cồn cao, khi chuyển làn đường không đảm bảo quan sát), do vậy mỗi người phải chịu ½ thiệt hại căn cứ theo quy định tại các Điều 589, 590 Bộ luật Dân sự, khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tại phiên toà, bị cáo Tuấn A nhất trí với cách tính toán và các nội dung yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại, đối với những yêu cầu bồi thường không có hoá đơn, bồi thường tổn thất tinh thần nhưng là chi phí thực tế, hợp lý nên bị cáo cũng nhất trí với cách tính toán số tiền bị hại yêu cầu là 362.044.000 đồng và đưa ra phương án sẽ trả cho anh T1 ½ mức yêu cầu của bị hại. Xét, bị cáo Tuấn A nhất trí với các nội dung yêu cầu bồi thường về tổn thất sức khoẻ và tổn thất tinh thần, nhất trí với cách tính toán của bị hại, và đề nghị bồi thường cho anh T1 ½ thiệt hại là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, bị cáo Tuấn A phải bồi thường cho bị hại là 362.044.000₫ : 2 = 181.022.000₫.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Đối với các vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Hữu T2 quá trình giao xe cho bị cáo Tuấn A điều khiển, Tuấn A có nói với T2 là đã có bằng lái xe. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không có căn cứ xử lý đối với T2 là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 101 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Huy Tuấn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 601, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Phạm Huy Tuấn A: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 7/6/2024.
Bị cáo Phạm Huy Tuấn A có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại là anh Trần Hữu T1 số tiền 181.022.000đ (Một trăm tám mươi mốt triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm làm tròn là 9.051.000 đồng (Chín triệu không trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
8
9
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
