|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-4-2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh và ông Mai Xuân Thường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bằng Giang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 469/2023/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐST- ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phùng Thị L, sinh năm 1998 địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt
Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1998; nơi đăng ký HKTT trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc tại: Đài Loan; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai chị Phùng Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn C kết hôn với nhau từ năm 2016 nhưng do anh C chưa đủ tuổi được phép đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đến ngày 09/3/2018 mới thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn sống chung tại nhà của bố chồng. Sau một thời gian chung sống thường phát sinh mâu thuẫn, hai bên có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, rơi vào bế tắc trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Khoảng năm 2019, anh Trần Văn C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Hiện tại chị không thể liên lạc được với anh C. Vì vậy chị làm đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 09/01/2017. Hiện tại chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu Tòa án đồng ý cho ly hôn, chị L có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Minh Q, không yêu cầu anh Trần Văn C cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Trần Văn C: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh C thông qua người thân ông Trần Văn Đ (bố của anh C) và niêm yết theo quy định, nhưng anh C vắng mặt, do đó không có ý kiến. Chị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh C đang làm việc, sinh sống tại Đài Loan. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Trần Văn Đ cung cấp địa chỉ, tin tức của anh C cũng như yêu cầu ông Đ thông báo cho anh C biết để anh C có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Ngày 26/02/2024, ông Trần Văn Đ đã gửi đơn trình bày có nội dung như sau: Ông là bố đẻ của anh Trần Văn C. Hiện nay anh C đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Đài Loan vì lý do công việc nên thường xuyên phải chuyển chỗ ở, không có địa chỉ cụ thể. Ông đã thông báo cho anh C biết việc chị L làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh C cũng đồng ý và đồng ý giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh C về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của con chung Trần Minh Q: Cháu là con của mẹ L, bố C. Bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Chị L đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án, toàn bộ ý kiến giữ nguyên như trong đơn khởi kiện, bản tự khai đã gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Phùng Thị L, cho chị L được ly hôn anh Trần Văn C; giao con chung Trần Minh Q, sinh ngày 09/01/2007 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; dành quyền khởi kiện về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung, nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Văn C có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.
[1.3] Thủ tục hòa giải: Bị đơn anh Trần Văn C hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
[1.4] Sự vắng mặt của đương sự: Chị Phùng Thị L đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy nhiên, do điều kiện sinh sống và làm việc chị L không tham gia phiên tòa được và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị L phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án.
Anh Trần Văn C hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C thông qua người thân là ông Trần Văn Đ gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời yêu cầu anh C trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi của anh C. Tòa án đã tiến hành xác minh qua người thân của anh C là ông Đ và được cung cấp thông tin như sau: Ông Đ là bố đẻ của anh C. Hiện nay anh C đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Anh C đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Đài Loan vì lý do anh C thường xuyên thay đổi chỗ ở, không có địa chỉ cụ thể. Ông đã thông báo cho anh C biết việc chị L làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh C cũng đồng ý. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 29/3/2024, lần thứ hai vào ngày 16/4/2024 nhưng cả hai lần anh C đều vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh C vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/22/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị L và anh Trần Văn C kết hôn với nhau vào ngày 09/3/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị L và anh C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cả hai chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Khoảng năm 2019, anh Trần Văn C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Hiện tại chị L không liên lạc được với anh C. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng, gửi văn bản thông báo thụ lý vụ án, đề nghị anh C có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Tuy nhiên anh C không có ý kiến. Xét thấy, hôn nhân giữa chị L và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[2.2] Con chung: Chị Phùng Thị L và anh Trần Văn C có 01 con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 09/01/2017. Hiện nay, chị L đang chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị L có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, anh C đang sinh sống, làm việc ở Đài Loan, không có điều kiện để chăm sóc, quản lý, giáo dục các con, cần giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, giáo dục. Dành quyền khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, anh C cũng chưa có ý kiến. Dành quyền khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho các đương sự khi có yêu cầu.
[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Án phí: Chị Phùng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phùng Thị L.
- Quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị L được ly hôn anh Trần Văn C.
- Con chung:
- Giao con chung Trần Minh Q, sinh ngày 09/01/2017 cho chị Phùng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Trần Văn C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phùng Thị L chưa yêu cầu, anh Trần Văn C chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.
Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
- Án phí: Chị Phùng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0001415 ngày 14/12/2023.
- Quyền kháng cáo:
- Chị Phùng Thị L vắng mặt, có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Anh Trần Văn C đang cư trú ở nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình L C
