Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 123/2024/HSST

Ngày: 15/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Hải;

Ông Dương Đức Chung.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 17/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024; đối với:

Bị cáo: Dương Văn D (tên gọi khác: Không), sinh năm 2001.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Đỗ Thị L; Chưa có vợ con.

Tiền án: 01 (một). Tại bản án số 38/2022/HSST ngày 24/3/2022, Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và ra trại ngày 11/02/2023, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/4/2024, đến ngày 30/4/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Chị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Dương Văn N, sinh năm 2005; Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh N vắng mặt)

* Người chứng kiến:

- Anh Hà Xuân H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: TDP Y, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1978; Địa chỉ: TDP Y, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh H1, anh L1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 21/4/2024, tổ công tác Công an thành phố P phối hợp với Công an phường H tiến hành tuần tra kiểm soát thì phát hiện Dương Văn D đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS 20G1-550.37 đang đi vào nhà nghỉ H2 thuộc tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra, D tự nguyện giao nộp cho tổ công tác từ trong túi quần phía trước bên phải D đang mặc 01 gói giấy, bên trong có 03 túi nilon màu trắng, trong đó có 02 túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 túi nilon chứa 02 viên nén màu nâu. Theo D khai, số chất rắn dạng tinh thể trên là ma tuý loại “Ke”, còn 02 viên nén màu nâu là ma tuý loại “Kẹo” của D để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ số tiền 745.000 đồng, 02 điện thoại di động và 01 xe mô tô của D.

Tại bản Kết luận giám định số 555/KL-KTHS ngày 29/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng là 1,743 gam. Hai viên nén màu nâu trong phong bì ký hiệu K2 gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA, có khối lượng là 0,880 gam.

Quá trình điều tra, Dương Văn D khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, D mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS 20G1-550.37 của anh Dương Văn N rồi điều khiển xe từ khu vực xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực cầu vượt Đ thuộc phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý. Đến nơi, D gặp một người nam giới không quen biết và mua được của người nam giới này hai chỉ ma tuý “Ke” và 02 viên ma tuý “Kẹo” với giá 2.300.000 đồng (gồm 04 tờ tiền 500.000 đồng, 01 tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). D cất giấu số ma tuý vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải D đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ H2 tại tổ dân phố Y, phường H, thành phố P để sử dụng. Khi D đi gần đến nhà nghỉ H2 thì bị lực lượng Công an thành phố P bắt quả tang như nêu trên. Mục đích D tàng trữ 1,743 gam ma tuý Ketamine và 0,880 gam ma tuý MDMA là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 1,639 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong có 0,768 gam mẫu K2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong có 03 túi nilon và bì niêm phong cũ để lưu kho;

- 01 (một) bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, model: Fami 12S, số IMEI 1: 353931046574728, số IMEI 2: 353931046774724, bên trong có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0327.599.xxx, đã qua sử dụng và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI 1: 354860897936612, số IMEI 2: 354860897775747, bên trong có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0387.571.xxx;

- Tiền ngân hàng N1: 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng);

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS 20G1-550.37, quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu hợp pháp của chị Dương Thị H. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H quản lý, sử dụng.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 112/CT-VKSPY ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Dương Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn D từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 1,639 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong có 0,768 gam mẫu K2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong có 03 túi nilon và bì niêm phong cũ;

Trả lại cho bị cáo Dương Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh và 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; Buộc bị cáo phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng và những người chứng kiến đều vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293, 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 50 phút ngày 21/4/2024, tại khu vực tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Dương Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,743 gam ma túy Ketamine và 0,880 gam ma tuý MDMA mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 112/CT-VKSPY ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Dương Văn D về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn D được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12, từ nhỏ sống với gia đình sau đó đi làm lao động tự do tại địa phương. Bị cáo có 01 tiền án cùng về nhóm tội Ma tuý, cụ thể: Tại bản án số 38/2022/HSST ngày 24/3/2022, D bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. D đã chấp hành xong hình phạt tù và ra trại ngày 11/02/2023. Sau khi trở về địa phương D vẫn không quyết tâm từ bỏ được hẳn ma tuý mà lại tiếp tục sử dụng ma tuý với liều lượng cao hơn và ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới (ngày 21/4/2024), D chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “Tái phạm”.

[5]. Về hình phạt: Từ các nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Dương Văn D là người trưởng thành, có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma tuý và các quy định của pháp luật về quản lý các chất ma tuý cũng như các chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội về ma tuý nhưng vì ham chơi, đua đòi, thiếu quyết tâm tu dưỡng để từ bỏ được hẳn ma tuý nên vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ, được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và vỏ bao mẫu lưu kho không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật;

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo D nhưng bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo để quản lý, sử dụng;

- Đối với số tiền 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) là tiền do D lao động hợp pháp mà có, D sử dụng số tiền này để chi tiêu cá nhân, không nhằm mục đích vi phạm pháp luật nên trả lại cho bị cáo D quản lý, sử dụng;

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 20G1-550.37, bị cáo khai mượn của anh Dương Văn N, quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu hợp pháp của chị Dương Thị H (mẹ đẻ anh Dương Văn N). Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H quản lý, sử dụng là phù hợp.

[7]. Về án phí: Bị cáo Dương Văn D phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Dương Văn D, theo D khai mua của một người nam giới tại khu vực đường gom khu công nghiệp T, phường H, thành phố P. D không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[9]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, phù hợp, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn D 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 21/4/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định:

  • 01 phong bì niêm phong ký hiệu K1, bên trong có 1,639 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K2, bên trong có 0,768 gam mẫu K2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong có 03 túi nilon và bì niêm phong cũ;

Trả lại cho bị cáo Dương Văn D 745.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu xanh, đã qua sử dụng của Dương Văn D;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 và Uỷ nhiệm chi ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án xử;

Buộc bị cáo Dương Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - VKSND thành phố Phổ yên;
  • - Thi hành án thành phố Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo, Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn D bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger