Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Bà Nguyễn Thị Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm T; nơi đăng ký HKTT: Thôn 3, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 2, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T; nơi cư trú: Thôn 3, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 23 tháng 4 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm T trình bày:

Chị Phạm T kết hôn với anh Bùi Văn T trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 28 tháng 5 năm 2006. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Tám mải chơi, thiếu quan tâm chăm sóc gia đình. Chị Tân đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Tám không thay đổi dẫn đến cuộc sống chung vợ chồng ngày càng phát sinh mâu thuẫn căng thẳng, anh Tám còn chửi bới, xúc phạm và đánh chị Tân. Do mâu thuẫn chị Tân và anh Tám hiện đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn giữa chị và anh Tám đã được gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị Tân nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn T. Chị và anh Bùi Văn T có 03 con chung tên Bùi Văn Tuấn, sinh ngày 01/10/2000; Bùi Văn Tuyền, sinh ngày 01/11/2005; Bùi Thị Kim Tuyến, sinh ngày 03/6/2015. Khi ly hôn chị Tân xin được trực tiếp nuôi con chung tên Bùi Thị Kim Tuyến, hai con tên Bùi Văn Tuấn và Bùi Văn Tuyền đã thành niên, có khả năng lao động nên chị Tân không yêu cầu Toà án giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị và anh Tám tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị và anh Tám không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Văn T có nơi cư trú tại Thôn 3, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án anh Bùi Văn T không hợp tác, cố tình trốn tránh. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho anh Bùi Văn T nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Tám vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Phạm T.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ly hôn giữa chị Phạm T và anh Bùi Văn T. Giao con chung tên Bùi Thị Kim Tuyến, sinh ngày 03/6/2015 cho chị Phạm T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai con chung tên Bùi Văn Tuấn, sinh ngày 01/10/2000; Bùi Văn Tuyền, sinh ngày 01/11/2005 đã thành niên và có khả năng lao động, chị Tám không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung các đương sự không yêu cầu nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Chị Phạm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Trích lục chứng nhận kết hôn, bản sao căn cước công dân, bản sao giấy khai sinh của con; Đơn đề nghị nguyện vọng của con chung; Bản sao Sổ phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của chị Phạm T; Biên bản xác minh tại Uỷ ban nhân dân và Công an xã Gia Đức, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Văn T cư trú tại xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Văn T.

[2] Về hôn nhân: Chị Phạm T và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, không thống nhất, thiếu tin tưởng lẫn nhau trong lao động làm ăn kinh tế nên thường xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng chị Tân, anh Tám đã được gia đình và địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn chị Tân, anh Tám hiện đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Tám đều vắng mặt không có lý do, thể hiện anh Tám không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Tân và không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm T và anh Bùi Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Phạm T được ly hôn anh Bùi Văn T.

[3] Về con chung: Chị Phạm T và anh Bùi Văn T có 03 con chung tên Bùi Văn Tuấn, sinh ngày 01/10/2000; Bùi Văn Tuyền, sinh ngày 01/11/2005; Bùi Thị Kim Tuyến, sinh ngày 03/6/2015.

Xét hiện nay con chung tên Bùi Thị Kim Tuyến đang do chị Tân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Bản thân chị Tân là công nhân, lao động có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử giao con chung là Bùi Thị Kim Tuyến cho chị Phạm T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với nguyện vọng của con chung và các quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai con chung tên Bùi Văn Tuấn, sinh ngày 01/10/2000; Bùi Văn Tuyền, sinh ngày 01/11/2005 hiện đã thàn niên và có khả năng lao động, các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm T và anh Bùi Văn T tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Phạm T khai chị và anh Bùi Văn T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh Tám không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm T và anh Bùi Văn T.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Bùi Thị Kim Tuyến, sinh ngày 03/6/2015 cho chị Phạm T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm T và anh Bùi Văn T tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Phạm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009883 ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên. Chị Phạm T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
  • - UBND xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 28/5/2006);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tân Tám
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger