|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
|
Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/5/2024 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thục
Bà Nguyễn Thị Phú.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐ-ST ngày 11/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/3/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Leo Thị N, sinh ngày 09/5/1980 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại Trung Quốc.
Chị N ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; Nơi thường trú: xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giao nhận tài liệu với Tòa án.
-
Bị đơn: Anh Dương Văn P, sinh ngày 02/10/1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Leo Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 30/12/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh P làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Năm 2010 vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm sống khiến tình cảm hai vợ chồng không còn như trước. Chị và anh P ly thân nhau từ năm 2013 cho đến nay. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định tình cảm không còn nên không về đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Dương Văn P.
Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là Dương Hồng X, sinh ngày 09/11/1997 và cháu Dương Thị Như Q, sinh ngày 02/12/1999. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Dương Văn P là bị đơn trình bày: Trước khi kết hôn anh và chị N được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị N về nhà anh làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Năm 2012 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Chị N đi lao động nước ngoài từ năm 2004, trong thời gian chị đi lao động vợ chồng vẫn hoàn thuận, vẫn gọi điện hỏi thăm nhau nhưng từ 2012 đến nay vợ chồng không còn liên lạc với nhau và sống ly thân nhau từ 2012. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn chị N. Nếu chị N cương quyết xin ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung là cháu Dương Hồng X, sinh ngày 09/11/1997 và cháu Dương Thị Như Q, sinh ngày 02/12/1999. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa, Chị Leo Thị N, anh Dương Văn P vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Leo Thị N; Biên bản lấy lời khai của anh Dương Văn P và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
Về hôn nhân: Không công nhận chị Leo Thị N và anh Dương Văn P là vợ chồng.
Về con chung: Do con chung đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
Về tài sản: Không yêu cầu nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
Chị Leo Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp: Chị Leo Thị N khởi kiện yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn anh Dương Văn P. Tuy nhiên, các đương sự không xuất trình được Giấy chứng nhận kết hôn gốc. Ngoài ra, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, xã T nhưng không có căn cứ xác định chị N, anh P có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nơi chị N và anh P sinh sống. Do đó, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình cụ thể là “Không công nhận là vợ chồng” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 27741/QLXNC-P3 ngày 23/10/2023 của Cục Q1 - Bộ C cung cấp, chị Leo Thị N, sinh ngày 09/5/1980 đã xuất cảnh ngày 24/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị N được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh P là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt các đương sự: Chị Leo Thị N là nguyên đơn, anh Dương Văn P là bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
-
Về hôn nhân: Theo trình bày của chị N, anh P thì anh, chị được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang năm 1996. Sau kết hôn anh, chị chung sống như vợ chồng từ đó đến nay. Tuy nhiên, anh P, chị N không cung cấp được Giấy chứng nhận kết hôn. Mặt khác, tại các biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang nơi anh P, chị N sinh sống không xác định được anh P, chị N có đăng ký kết hôn hay không. Do đó, không có căn cứ xác định anh P, chị N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang như anh, chị trình bày. Quá trình chung sống đến nay chị N xác định vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh P, Hội đồng xét xử thấy: anh P, chị N đều xác định anh, chị chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996. Quá trình chung sống năm 2004 chị N đi lao động nước ngoài, sau khi đi lao động anh, chị vẫn hoàn thuận nhưng từ năm 2012 anh, chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị N xác định tìm cảm vợ chồng không còn nên đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh P. Anh P xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn chị N nhưng nếu chị N nhất quyết xin ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xác định cuộc sống chung của anh P, chị N đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, do không có căn cứ xác định anh P, chị N có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Leo Thị N và anh Dương Văn P như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật.
- Về con chung: Hiện nay các con chung đều đã trên 18 tuổi, không có cháu nào bị hạn chế năng lực hành vi nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Do chị N, anh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Leo Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
-
Về quyền kháng cáo:
- Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị N đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14; Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, X1: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Leo Thị N.
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Leo Thị N và anh Dương Văn P.
- Về án phí: Chị Leo Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000827 ngày 07/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Leo Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Chị Leo Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Dương Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Thục |
Nguyễn Trung Thông |
|
Nguyễn Thị Phú |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N, anh P không công nhận quan hệ vợ chồng
