Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 15 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Xuân Tuất;

Ông Nguyễn Đình Quang;

- Thư ký phiên tòa:Bà Đoàn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dânhuyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Naitham gia phiên tòa: ÔngPhạm Ngọc Lương- Kiểm sát viên.

Ngày 15tháng 5 năm 2024, tạitrụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:120/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩmsố:126/2024/QĐXXST-HS ngày03 tháng 5 năm 2024, đối với:

- Các bị cáo:

  1. Đặng Văn H,sinh ngày 02 tháng 6 năm1971 tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12;dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Năng và bà Đặng Thị P;Bị cáo có vợ và 05 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Đắc V, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1978 tại Quảng Nam; nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: cơ khí; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc H1 và bà Võ Thị T; Bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 04 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1977 tại Bắc Giang; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Vương Thị S; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  4. Lê Văn T2, sinh ngày 05 tháng 05 năm 1988 tại Nghệ An; nơi cư trú: khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân C và bà Nguyễn Thị T3; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Anh T4, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1991 tại Quảng Bình; nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Phạm Thị V1; Bị cáo có vợ và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  6. Trần Văn T5, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1976 tại Nam Định; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C1 và bà Đinh Thị T6; Bị cáo có vợ và có 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  7. Lê Thị T7, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1964tại Nghệ An; nơi cư trú: thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến S1 (đã chết) và bà Lê Thị Đ (đã chết); Bị cáo có chồng và có 04 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số 23/QĐ ngày 14/4/2012 và quyết định số 28/QĐ ngày 15//4/2013 của Công an huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 16/01/2024, Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T4Lê Thị T7 đến cửa hàng V2 do Trần Văn T5 làm chủ tại địa chỉ: Thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để ăn nhậu. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, H, V, T1, T4, T5T7 rủ nhau cùng chơi đánh bạc bằng hình thức “Lắc xí ngầu chẵn - lẻ” thắng thua bằng tiền. Các bị cáo sử dụng 01 chén nhựa và 01 hột xí ngầu (có 06 mặt được đánh dấu chấm tròn từ 1, 2, 3, 4, 5, 6 chấm) làm dụng cụ đánh bạc, với cách thức đánh bạc như sau: H là người làm cái cho V, T1, T4, T5T7 đặt cược, trước khi bắt đầu một ván bạc, H lấy chén nhựa úp lên hột xí ngầu đặt giữa sàn để lắc chén cho hột xí ngầu thay đổi mặt, sau khi người làm cái lắc chén thì các con bạc đặt chẵn hoặc lẻ (chẵn là khi trên mặt của hột xí ngầu là 2, 4 và 6 chấm còn lẻ là trên mặt hột xí ngầu là 1, 3 và 5 chấm), mỗi con bạc đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng/ván, sau khi con bạc đặt cược xong, H mở chén kết quả chẵn thì người đặt cược chẵn thắng đúng bằng số tiền đã đặt cược và người đặt lẻ thua đúng số tiền đã đặt cược. H lấy tiền con bạc thua cược trả cho con bạc thắng cược, số tiền chênh lệch còn lại H được hưởng. Quá trình đánh bạc thì có T2 và 02 đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) vào tham gia cùng. Các bị cáochơi bạc đến 15 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra, xác định hành vi đánh bạc của các bị cáo như sau:Đặng Văn H mang theo và sử dụng số tiền 10.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H thua 1.000.000 đồng. Nguyễn Đắc V mang theo và sử dụng số tiền 3.900.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc thắng được 100.000 đồng. Nguyễn Văn T8 theo và sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc; quá trình đánh bạc T1 không thua, không thắng. Lê Văn T2 mang theo và sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T2 thua hết số tiền 300.000 đồng. Nguyễn Anh T4 mang theo và sử dụng số tiền 250.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T4 thắng 100.000 đồng. Trần Văn T5 mang theo và sử dụngsố tiền 485.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T5 thua hết 450.000 đồng. Lê Thị T9 theo và sử dụng số tiền 3.080.000 đồng để đánh bạc cho đến khi bị bắt.Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là17.165.000 đồng.

2. Vật chứng của vụ án:

  • Số tiền 17.165.000 đồng sử dụng để đánh bạc;
  • 01 chén nhựa màu trắng, 01 hột xí ngầu đang sử dụng.

3. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

3.1 Truy tố: Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKS-TB ngày 08 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Trần Văn T5, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T10 Lê Thị T11 tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sựnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.2Tại phiên tòa:Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:

3.2.1. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1, Điều 321,điểm i, s khoản 1 Điều 51,Điều 58; Điều 35củaBộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Trần Văn T5, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T4Lê Thị T7 phạm tội “Đánh bạc”;
  • - Xử phạt các bị cáo Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Lê Thị Thanh m bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T4, Trần Văn T5 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

3.2.2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 17.165.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chén nhựa màu trắng và 01 hột xí ngầu là dụng cụ đánh bạc.

3.2.3. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáothừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, cóđủ cơ sở để xác định, vào khoảng 14 giờ ngày 16/01/2024, tại cửa hàng V2 thuộc thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai:Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Trần Văn T5, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T4Lê Thị T12 có hành vi đánh bạc bằng hình thức “Lắc xí ngầu chẵn - lẻ” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạclà 17.165.000 đồng (mười bảy triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh như đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.3. Về hình phạt:

Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, mang tính bộc phát, không có người cầm đầu, tất cả các bị cáo đều là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò như nhau. Các bị cáo đều nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài lần phạm tội này đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là đủ để giáo dục và phòng ngừa chung; do đó áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.

[4] Các nội dung khác:

Đối với 02 đối tượng tham gia đánh bạc đã bỏ chạy thoát, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 17.165.000 (mười bảy triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng);

Theo biên lai thu tiền số 0003536 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 chén nhựa màu trắng và 01 hột xí ngầu đã qua sử dụng;

Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 xe môtô hiệu Air Blade, màu đỏ - đen, biển số 60X4-3955 của Đặng Văn H; 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Nguyễn Đắc V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại điện thoại hiệu Iphone và 01 xe môtô hiệu Honda SH150i, màu trắng - đen - bạc, biển số 60F3-388.39 của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 xe môtô hiệu Honda SH150i, màu đen, biển số 60F3-475.56 của Nguyễn Anh T4; 01 điện thoại di động hiệu Iphone và 01 xe môtô hiệu Honda SH150i, màu trắng - đen, biển số 60H1-353.22 của Trần Văn T5,không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với các nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    • -Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Trần Văn T5, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T4, Lê Thị T7 phạm tội “Đánh bạc”;

    • -Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng);

    • -Xử phạt bị cáo Lê Thị T7 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng);

    • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc V 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đồng;

    • -Xử phạt bị cáo Trần Văn T5 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) đồng;

    • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);

    • -Xử phạt bị cáo Lê Văn T2 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);

    • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T4 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 17.165.000 (mười bảy triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng);

    • Theo biên lai thu tiền số 0003536 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 chén nhựa màu trắng và 01 hột xí ngầu đã qua sử dụng;

    • Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Trần Văn T5, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T4Lê Thị T7 bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thùy Trinh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); -Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn H, Nguyễn Đắc V, Trần Văn T, Nguyễn Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Anh T3, Lê Thị T4 phạm tội “Đánh bạc”;
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger