Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 123/2024/HS - ST

Ngày 14 tháng 6 năm 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Văn Hoan

Ông Nguyễn Quang Đạt

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/HSST ngày 03/6/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST – HS ngày 03/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình Q, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố N, phường Đ, quận N, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đình V và con bà Bạch Thị M; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 201 ngày 18/11/2016 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS xử phạt Nguyễn Đình Q 40 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/2019, đã chấp hành xong án phí và các hình phạt khác ngày 24/7/2017 (đã xoá án tích). Bắt quả tang ngày 25/01/2024; tạm giữ ngày 25/01/2024; tạm giam ngày 30/01/2024; Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phối hợp với Công an phường N đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường L phát hiện Nguyễn Đình Q có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Đình Q giao nộp 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong có một hộp giấy kích thước 12x8x4cm đựng 01 (một) túi nilon kích thước 5x7cm chứa tinh thể màu trắng và khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy “ke” Quyết mua về bán để kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, đưa Q về trụ sở để làm rõ.

Cơ quan Công an đã thu giữ của Nguyễn Đình Q:

  • 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 05x07cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng;
  • 01 (một) túi nilon màu hồng;
  • 01 (một) hộp giấy kích thước 12x08x04cm;
  • 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng);
  • 01 (một) điện thoại di động kiểu dang Iphone màu đen, bên trong lắp sim 0907831989, số IMEI1: 353107100885330, số IMEI2: 353107100902317.

Tại bản Kết luận giám định số 1190 của Phòng K Công an thành phố H ngày 01/02/2024 cho kết quả: Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon thu của Nguyễn Đình Q là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 42,020 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Q khai nhận: Qua mạng xã hội T, Q quen một người tên là Đ có tên tài khoản T là “E của toàn bò” và biết người này bán ma túy, sử dụng số điện thoại 0983.295.xxx. Ngày 23/01/2024, Q liên hệ với Đ đặt mua 20.000.000 đồng tiền ma túy “ke” để bán lại kiếm lời. Sau khi giao tiền mặt cho Đ tại khu vực đầu ngõ A T, phường T, quận C, Hà Nội, đến khoảng 17h cùng ngày, Đ hướng dẫn Q ra khu vực hầm dân sinh của Đại lộ T, phường T, quận N, Hà Nội để lấy ma túy và mang về nhà cất giấu. Đến ngày 25/01/2024, do không tìm được người mua ma túy, Q liên hệ với Đ để trả lại số ma túy trên và lấy lại tiền. Khoảng 19h50 ngày 25/01/2024, khi Q đang đứng chờ Đ tại khu vực đầu ngõ B L, phường N, quận T, Hà Nội thì bị tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phối hợp với Công an phường N đang làm nhiệm vụ bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Đối với người tên “Đ”, Q không biết nhân thân, lý lịch, chỉ biết Đ sử dụng số điện thoại 0983.295.xxx và được giới thiệu là “em của T1 bò” là một người khác Quyết quen qua mạng xã hội, không có thông tin, lai lịch. Xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0983.295.xxx là Lê Thị C (sinh ngày 20/5/1995, địa chỉ: xã Q, huyện Ứ, Hà Nội). Bà C khai không đứng tên đăng ký thuê bao và sử dụng số điện thoại 0983.295.xxx, không quen biết người nào tên Đ và Nguyễn Đình Q, nên không có căn cứ để xử lý đối với bà Lê Thị C, không có căn cứ điều tra xử lý người tên “Đ” đã bán ma túy cho Q.

Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen, bên trong lắp sim 0907831989, số IMEI1: 353107100885330, số IMEI2: 353107100902317, Q khai là tài sản cá nhân của Q, được sử dụng để trao đổi việc mua bán ma túy với Đ.

Đối với số tiền 370.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đình Q, Q khai nhận đây là tài sản cá nhân, mang theo để chi tiêu, không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nêu trên.

Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Đình Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q từ 9 năm tù đến 9 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024. Bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ:

  • 01(một) phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn H, cán bộ Phạm Trung D và đương sự Nguyễn Đình Q, bên trong có 39,910 gam Ketamine (thu giữ ban đầu là 42,020 gam, đã trích mẫu giám định 2,110 gam).
  • 01(một) túi nilong màu hồng
  • 01(một) hộp giấy kích thước khoảng 12x8x4cm

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: - 01(một) điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ, Số Imeil: 353107100885330, số I: 353107100902317, bên trong lắp sim cần tịch thu tiêu huỷ.

Trả lại bị cáo số tiền: 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng);

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình Q công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 19h50 ngày 25/01/2024, tại khu vực đầu ngõ B L, phường N, quận T, Hà Nội, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phối hợp với Công an phường N làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đình Q đang có hành vi cất giấu 01 (một) túi nilon màu hồng đang cầm bên tay phải bên trong một hộp giấy kích thước 12x8x4cm đựng 01 (một) túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 42,020 gam nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình Q đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử lý hình sự nhưng không lấy đó làm bài học tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

[4].Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét, Về tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Q không có thu nhập ổn định, nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01(một) phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn H, cán bộ Phạm Trung D và đương sự Nguyễn Đình Q, bên trong có 39,910 gam Ketamine (thu giữ ban đầu là 42,020 gam, đã trích mẫu giám định 2,110 gam), cần tịch thu tiêu huỷ.
  • 01(một) túi nilong màu hồng, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ
  • 01(một) hộp giấy kích thước khoảng 12x8x4cm, cần tịch thu tiêu huỷ
  • 01(một) điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ, Số Imeil: 353107100885330, số Imei2: 353107100902317, bị cáo sử dụng để mua bán ma tuý cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước. bên trong lắp sim cần tịch thu tiêu huỷ.
  • 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng) là tiền của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[8].Về quyền kháng cáo: Bị cáo Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng:

  • Điểm n khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q 9 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • 01(một) phong bì niêm phong dán kín có dấu niêm phong của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn H, cán bộ Phạm Trung D và đương sự Nguyễn Đình Q, bên trong có 39,910 gam Ketamine (thu giữ ban đầu là 42,020 gam, đã trích mẫu giám định 2,110 gam), cần tịch thu tiêu huỷ.
  • 01(một) túi nilong màu hồng, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ
  • 01(một) hộp giấy kích thước khoảng 12x8x4cm, cần tịch thu tiêu huỷ

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01(một) điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ, Số Imeil: 353107100885330, số I: 353107100902317. Bên trong lắp sim cần tịch thu tiêu huỷ.

- Trả lại bị cáo Q 370.000 đồng (ba trăm bảy mươi nghìn đồng).

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2024 và UỶ nhiệm chi ngày 13/6/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận T.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Đình Q phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Nguyễn Đình Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS - ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 123/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Q Mua bán trái phé p chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger