|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày 12/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Điều, bà Nguyễn Thị Tám.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 18/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Trần Văn L, sinh năm 1973 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Ngô Thị H1, sinh năm 1998; con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại bản án số 114 ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Thái 05 năm 06 tháng tù giam về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 22/5/2018.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B (có mặt).
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1994; trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1996; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, Trần Văn T điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, biển kiểm soát 99D1-241.48 từ nhà để đón vợ T. Trên đường đi, T nhìn thấy chị Nguyễn Thị G đang ngồi sử dụng điện thoại di động ở vỉa hè nên nảy sinh ý định cướp điện thoại của chị G. T đến quán T1 01 con dao với mục đích để cướp điện thoại. Sau khi mua được dao, T điều khiển xe quay lại chỗ chị G ngồi. T dừng xe ở rìa đường, tay cầm dao đi ra sau lưng chị G. Thái kề phần lưỡi dao vào cổ của chị G nói: "im mồm không tao giết” làm chị G sợ hãi. T dùng tay trái túm cổ áo của chị G và kéo chị G lùi về bãi đất trống phía sau. T nảy sinh ý định giao cấu với chị G nên T cầm dao dơ về phía chị G nói: "cởi quần ra", chị G sợ hãi chưa làm theo thì T tiếp tục dơ dao về phía chị G và nói tiếp "cởi quần ra". Do sợ hãi, chị G tự cởi quần ra. Khi chị G vừa cởi quần xong, T đẩy chị G nằm ngửa về phía sau, T nằm đè lên người chị G và dùng tay kéo khẩu trang của chị G đang đeo che mắt chị G, chị G dùng tay định kéo khẩu trang xuống thì T nói: "không được kéo xuống không tao giết", chị G nói: "em xin anh, anh đừng giết em". T tự cởi quần của mình và đưa dương vật của T vào âm đạo của chị G để giao cấu với chị G khoảng 2 phút thì rút dương vật ra. Thái bắt chị G dùng miệng để quan hệ tình dục, chị G dùng miệng và tay để kích thích dương vật cho T thì T xuất tinh lên bụng của T và dính vào quần áo của chị G.
Sau khi quan hệ tình dục xong, chị G đang cầm điện thoại Samsung Galaxy S21 Fe 5G nên T nói với chị G “đưa điện thoại đây”. Chị G sợ T sẽ giết nên đưa điện thoại cho T. Sau khi lấy được điện thoại, T nhặt con dao để ở dưới đất lên rồi đi về. Trên đường đi, T đã vứt dao ở lề đường nhưng không nhớ rõ vị trí. Đến trưa ngày 11/3/2024, T mang điện thoại của chị G đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Văn C bán với giá là 4.500.000 đồng.
Ngày 13/3/2024, chị G đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y và giao nộp 01 quần độn mông màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 áo sơ mi kẻ màu trắng hồng, 01 áo lót màu vàng nhạt, 01 áo khoác gió màu tím than.
Cùng ngày, nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân nên Trần Văn T đến Công an huyện Y đầu thú và giao nộp 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ, đen BKS: 99D1-241.48. Anh Nguyễn Văn C giao nộp 01 điện thoại Samsung Galaxy
2
S21 Fe 5G.
Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C1 giám định ADN trên bộ quần áo do chị Nguyễn Thị G giao nộp có dấu vết tinh dịch hay không? Nếu có thì có phải là của Trần Văn T hay không?.
Tại Bản kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
“1. Trên chiếc áo khoác gió có bám dính tinh trùng người. Không phân tích được kiểu gen do chất lượng dấu vết kém.
2. Trên chiếc quần độn mông có bám dính tinh trùng của Trần Văn T.
3. Không phát hiện thấy tinh trùng người bám dính trên các mẫu gửi giám định còn lại (chiếc quần dài màu đen, chiếc áo sơ mi kẻ trắng hồng, chiếc áo lót ngực nữ màu vàng nhạt).
Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 38/2024/KLXHTD ngày 26/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận:
2. Kết luận:
2.1. Pháp y tình dục:
- Màng trinh: Rách cũ vị trí 3h, 9h, 5h, 7h. Di tích màng trinh còn lại đã teo, không phát hiện vết rách mới và sẹo mới.
- Định lượng bhCG:< 0.100 U/L: Chưa có thai.
- Xét nghiệm HIV test nhanh: Âm tính (Chưa phát hiện nhiễm HIV); HbsAg: Dương tính (Dương tính viêm gan B).
- Đối tượng Nguyễn Thị G là nữ giới, khả năng hoạt động sinh lý nữ bình thường.
2.2. Thương tích:
- Vùng đầu, mặt, cổ, miệng, hầu họng, ngực, lưng, bụng, mông, tay, chân, tầng sinh môn âm hộ, môi lớn, môi bé không có tổn thương. Không đủ căn cứ khoa học tỉnh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Tại Bản kết luận giám định khả năng tình dục nam số 36/2024/KLKNTD ngày 25/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận:
- Qua quá trình khám giám định và kết quả cận lâm sàng, xác định Trần Văn T tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.
- Xét nghiệm HIV Ag/Ab miễn dịch tự động: Âm tính (Chưa phát hiện nhiễm HIV); HbsAg miễn dịch tự động: Âm tính (Chưa phát hiện viêm gan B)”.
3
Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S21 Fe 5G màu xanh ngọc số IMEI 1: 354050730319677, số IMEI 2: 355962510319678 đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 3/2024 là: 5.000.000 đồng”.
Tại Bản cáo trạng số 124/CT-VKSYP ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Trần Văn T về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại là chị Nguyễn Thị G trình bày: Chị G đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Fe 5G, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Đối với hành vi hiếp dâm của T, chị G yêu cầu T phải bồi thường cho chị G số tiền 70.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C trình bày: Thái bán điện thoại di động nhãn hiệu S S21 Fe cho anh C với giá 4.500.000 đồng. Sau khi biết điện thoại là do phạm tội mà có, anh C đã giao nộp điện thoại cho Công an. Gia đình T đã trả lại cho anh C số tiền 4.500.000 đồng, anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là mẹ đẻ của T. T đã tác động gia đình nên bà đã bồi thường cho anh C số tiền là 4.500.000 đồng. Bà H không yêu cầu T phải trả lại cho bà số tiền bà đã bồi thường cho anh C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Hiếp dâm”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141, điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Hiếp dâm; từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 09 năm 06 tháng đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2024.
4
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 592 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị G số tiền từ 11.700.000 đồng đến 18.720.0000 đồng.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước xe máy Exciter màu đen đỏ, biển kiểm soát 99D1-241.48.
Tịch thu tiêu hủy: 01 quần độn mông màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 áo sơ mi kẻ màu trắng hồng, 01 áo lót màu vàng nhạt, 01 áo khoác gió màu tím than
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/3/024, tại đường vành đai khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn T đã sử dụng 01 con dao kề vào cổ, đe dọa chị Nguyễn Thị G và thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với chị G. Sau khi thực hiện hành vi giao cấu với chị G xong, T có hành vi dùng dao đe dọa, uy hiếp làm cho chị G lo sợ để chiếm đoạt của chị G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Fe 5G. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự và tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, gây bất bình trong dư luận. Vì vậy cần phải xét xử nghiêm để phòng ngừa chung.
5
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an đầu thú. Bị cáo tác động gia đình bồi thường cho anh C số tiền 4.500.000 đồng. Như vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu, Tại bản án số 114 ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Thái 05 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 22/5/2018. Bị cáo không lấy đó làm bài học cải tạo cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo thực hiện cùng một lúc hai hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là kẻ coi thường pháp luật, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị G đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Fe 5G, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với hành vi hiếp dâm của T: Chị G yêu cầu T phải bồi thường số tiền 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và bị hại không thống nhất được mức bồi thường về dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Điều 592 Bộ luật dân sự quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Theo Nghị định số 73/2024/NĐ – CP, ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ: Từ ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị G số tiền 23.400000 đồng (tương ứng với 10 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định).
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe máy Exciter màu đen đỏ, biển kiểm soát 99D1-241.48 thu giữ của bị cáo. Do bị cáo sử dụng xe máy vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 quần độn mông màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 áo sơ mi kẻ màu trắng hồng, 01 áo lót màu vàng nhạt, 01 áo khoác gió màu tím than. Tại phiên
6
tòa, chị G không đề nghị xin lại những tài sản này, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Những vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Văn C là người mua điện thoại di động S S21 Fe 5G nhưng anh C không biết điện thoại do phạm tội mà có. Vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý với anh C là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Hiếp dâm” và tội “Cướp tài sản”.
2.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 30 (ba mươi) tháng tù về tội Hiếp dâm; 08 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Trần Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 592 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị G số tiền là 23.400.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước xe máy Exciter màu đen đỏ, biển kiểm soát 99D1-241.48.
Tịch thu tiêu hủy: 01 quần độn mông màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 áo sơ mi kẻ màu trắng hồng, 01 áo lót màu vàng nhạt, 01 áo khoác gió màu tím than
7
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
5.Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.170.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh
- VKSND huyện Yên Phong;
- Công an huyện Yên Phong;
- Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
- Chi cục THADS huyện Yên Phong;
- Những người TGTT;
- Lưu HS, VP.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
8
9
10
11
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hiếp dâm và cướp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm và Cướp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thái - Hiếp dâm, giao cấu
