|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-5-2024. V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Diệp
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh
2. Bà Thiều Thị Phi Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 2502/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 20224 và Quyết định hoãn phiên toà số 207/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hán Thị H, sinh năm 1982 – Vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: 283L/2, khu phố 1B, phường A, thành phố T, tỉnh B.
Bị đơn: Ông Phạm T, sinh năm 1981 – Vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: Nhà không số, tổ 19A, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hoà giải nguyên đơn bà Hán Thị H trình bày:
Bà và ông T kết hôn vào năm 2022, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố T, tỉnh B, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng ông bà chung sống với nhau không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Bà nhận thấy những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể giải quyết và cứu vãn được nên bà làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T để trả tự do cho cả hai.
Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm T1, sinh ngày 29/06/2022. Ly hôn, bà yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phạm T1. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phạm T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp Tòa án.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H; Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung tên Phạm T1, sinh ngày 29/06/2022. Cháu T1 đang còn nhỏ và hiện do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho bà H nuôi dưỡng.
Vê tài sản chung: bà H trình bày tự thoả thuận và không có nợ chung. Tuy nhiên do chưa lấy được lời khai của ông T nên đề nghị tách phần tài sản chung và nợ chung để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến tòa để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với bà H và ông T.
- Về thẩm quyền: Bà H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Phạm T, có địa chỉ cư trú tại Nhà không số, tổ 19A, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
-
Về quan hệ pháp luật và pháp luật áp dụng:
Bà H và ông T kết hôn vào năm 2022, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố T, tỉnh B. Căn cứ quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp. Bà H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T và giải quyết về con chung, đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Về quan hệ hôn nhân:
Qua đơn khởi kiện ly hôn của bà H, tại bản tự khai và lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giải cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T là có thật, mặc dù xác minh mâu thuẫn giữa bà H và ông T ở địa phương không nắm được. Tuy nhiên, Toà án đã nhiều lần triệu tập ông T để hoà giải đoàn tụ nhưng ông T đã không đến tòa trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Nhận thấy, mục đích hôn nhân giữa bà H và ông T không còn đạt được nên nếu có tạo điều kiện về thời gian cho cả hai hòa giải hàn gắn cũng không có kết quả. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, giải quyết cho bà H được ly hôn ông T.
- Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung tên Phạm T1, sinh ngày 29/06/2022. Xét thấy, cháu Phạm T1 hiện đang còn nhỏ và do bà H là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, nhằm tránh xáo trộn cuộc sống của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho bà H trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm thời, ông T không cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu.
- Về tài sản chung: bà H trình bày tự thoả thuận và không có nợ chung. Tuy nhiên, do chưa lấy được lời khai của ông T nên tách phần tài sản chung và nợ chung để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
- Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hán Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hán Thị H được ly hôn với ông Phạm T.
-
Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm T1, sinh ngày 29/06/2022. Giao cháu Phạm T1 cho bà Hán Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời, ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông T không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục pháp luật quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn bà H phải chịu số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009403 ngày 02/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bà H và ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Diệp |
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn
