Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/DS-ST

Ngày : 10-5-2024

“Về việc tranh chấp hợp đồng

tín dụng, hợp đồng thế chấp

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Văn Hiển;
  2. Ông Nguyễn Ngọc Bờ.

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hợp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 249/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 237/2024/QÐST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K; địa chỉ trụ sở: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Trung V, chức vụ: Phó Tổng Giám đốc (theo văn bản ủy quyền lập ngày 21/8/2023).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Trung V: Ông Trần Thanh V1, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ liên hệ: Số B, P, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền lập ngày 11/9/2023), có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tố Q, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Số A, tổ I, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lê Thị H, sinh năm 1966, vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Thế H1, sinh năm 1992, vắng mặt.
  • + Em Nguyễn Phát Đ, sinh ngày 20/02/2019, vắng mặt.
  • + Em Nguyễn Hoài N, sinh ngày 20/02/2015, vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của em Nguyễn Phát ĐNguyễn Hoài N: Bà Nguyễn Thị Tố Q, sinh năm 1989; (Mẹ của Đ và N)

Cùng địa chỉ cư trú: Số A, tổ I, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng,người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP K ông Trần Thanh V1 trình bày:

Giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q có ký kết Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 với nội dung thỏa thuận như sau: Thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn mua bán giầy dép các loại, số tiền vay là 400.000.000 đồng.Ngày giải ngân là ngày 04/7/2022, lãi suất vay 11.1%/năm áp dụng đối với KUNN giải ngân trong vòng 03 tháng một lần, lãi suất nợ quá hạn bằng 150%, phạt chậm trả lãi 10%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Q vi phạm nghĩa vụ trả vốn, lãi và dư nợ tính đến 15/9/2023 là 452.553.735 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Q đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết.

Vì vậy, nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Yêu cầu bà Nguyễn Thị Tố Q trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/09/2023 là 452.553.735 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm năm mươi hai triệu năm trăm năm mươi ba nghìn bảy trăm ba mươi lăm đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 16/9/2023 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán đứt nợ.
  • - Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 634/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P1 với bà Nguyễn Thị Tố Q để đảm bảo cho việc thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Tố Q không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

2

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q: Bị đơn bà Q có bản tự khai thừa nhận khoản nợ vay của Ngân hàng nhưng do hoàn cảnh khó khăn, không thể trả một lần, xin ngân hàng miễn lãi và cho trả 2.000.000 đồng/tháng.

Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ và đã mở phiên hòa giải, phiên họp, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp nhưng bị đơn bà Q đều vắng mặt.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng TMCP K do ông Trần Thanh V1 đại diện trình bày:

  • - Ngân hàng TMCP K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. Tuy nhiên, về yêu cầu tính lãi, Ngân hàng TMCP K yêu cầu tính lãi đến ngày 10/5/2024 như sau:
  • + Nợ gốc là 400.000.000 đồng;
  • + Lãi trong hạn 31.935.343 đồng;
  • + Tiền phạt chậm trả lãi 3.380.751 đồng;
  • + Lãi quá hạn 82.308.493 đồng.

Đồng thời Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 11/5/2024 đến khi trả hết nợ với mức lãi suất theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP K và bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q.

  • - Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 634/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P1 với bà Nguyễn Thị Tố Q để đảm bảo cho việc thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Tố Q không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q trình bày: Bà thừa nhận và thống nhất với khoản vay và tiền lãi theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Hiện nay, bà đang gặp hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bà xin Ngân hàng xem xét miễn lãi và tạo điều kiện cho bà trả dần khoản nợ gốc.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên

3

tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá giải quyết vụ án và nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng:Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q trả nợ vay là 400.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 10/5/2024 là 117.624.587 đồng (bao gồm lãi trong hạn là 31.935.343 đồng, tiền phạt chậm trả lãi 3.380.751 đồng, lãi quá hạn là 82.308.493 đồng).

Căn cứ Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 được ký kết giữa bị đơn bà Q với Ngân hàng trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận đúng pháp luật, đồng thời bị đơn bà Q thừa nhận nợ vay và nợ lãi theo yêu cầu của Ngân hàng.

Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K là có cở sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với vốn vay là 400.000.000 đồng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trả lãi, bị đơn bà Q tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 11/5/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 cho đến khi trả dứt các khoản nợ.

Đối với tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 634/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P1 với bà Nguyễn Thị Tố Q để đảm bảo cho việc thi hành án. Bị đơn đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 264,7m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06647, thửa số 376, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang do Sở T cấp ngày 15/6/2016 cho bà Nguyễn Thị Tố Q đứng tên. Xét thấy, hợp đồng thế chấp hợp pháp, phù hợp quy định pháp, có hiệu hiệu lực pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của bà Q đảm bảo khoản vay cho Ngân hàng nếu bà Nguyễn Thị Tố Q không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng, án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q trả tiền vay. Đây là tranh chấp về giao dịch dân sự đối với hợp đồng tín dụng. Bị đơn bà Q có nơi cư trú tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản tại khoản 3 Điều 26, và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đang. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng cho vay theo hạn mức:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 được ký kết giữa bà P với Ngân hàng TMCP K, với nội dung: Thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay bù đắp chi phí mua đất, số tiền vay là 400.000.000 đồng, dư nợ tính đến ngày 10 tháng 4 năm 2024 là 517. 624.587 đồng, được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Ngân hàng đã giao đủ tiền vốn vay cho bà Q số tiền 400.000.000 đồng, trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Q đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Như vậy, quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn bà Q đã vi phạm nghĩa vụ trả trả vốn gốc và trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Tố Q nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ về việc bị Ngân hàng TMCP K khởi kiện, bị đơn bà Q thừa nhận khoản nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, xin cho bà Q được trả vốn mỗi tháng 2.000.000 đồng, đồng thời xin miễn lãi. Nguyên đơn ngân hàng không đồng ý nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

5

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ các tài liệu chứng cứ, lời thừa nhận của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về lãi, lãi suất

Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng quy định về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định như sau: Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Do đó, các thỏa thuận về lãi, lãi suất trong Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP K với bà Nguyễn Thị Tố Q là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở buộc bà Nguyễn Thị Tố Q trả lãi cho Ngân hàng TMCP K tính đến ngày 10/5/2024 như sau: Lãi trong hạn 31.935.343 đồng; tiền phạt chậm trả lãi 3.380.751 đồng; lãi quá hạn 82.308.493 đồng;

Đồng thời bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q tiếp tục trả lãi kể từ ngày 11/5/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP K với mức lãi suất theo thỏa thuận tại Điều 2, Điều 3, Điều 4 của Hợp đồng tín dụng 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP K với bà Nguyễn Thị Tố Q.

[2.3] Về hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 634/21/HĐHM/1201-2207 ngày 28/6/2021 và Hợp đồng tín dụng từng lần số 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP K với bà Nguyễn Thị Tố Q, bà Nguyễn Thị Tố Q đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng

6

đất số 631/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 để đảm bảo việc thực hiện thi hành án cho đến khi thi hành án xong, phát mãi tài sản đã thế chấp Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 631/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 đề thu hồi nợ cho ngân hàng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 667322, số vào sổ cấp GCN: CS06647 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 15/06/2016, với các đặc điểm cụ thể như sau: thửa đất số: 376; tờ bản đồ số: 11; diện tích: 264,7m²; hình thức sử dụng: sử dụng riêng; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: lâu dài; nguồn gốc sử dụng: được tặng cho đất được Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất; tọa lạc tại: xã B, huyện C, tỉnh An Giang; đứng tên bà Nguyễn Thị Tố Q.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật, có thực hiện giao dịch bảo đảm, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 631/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 được ký kết tuân thủ quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Do vậy, trong trường hợp bà Nguyễn Thị Tố Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 10 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 631/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021.

[2.4] Về chi phí thẩm định tại chỗ:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 26, Điều 35, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

7

Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q tổng số tiền là 517.624.587 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị Tố Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền đến ngày 10/5/2024 dương lịch là 517.624.587 đồng. Trong đó, bao gồm nợ gốc là 400.000.000 đồng; lãi trong hạn 31.935.343 đồng; tiền phạt chậm trả lãi 3.380.751 đồng; lãi quá hạn 82.308.493 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q còn phải tiếp tục trả lãi kể từ ngày 11/5/2024 dương lịch đến khi trả hết nợ với mức lãi suất theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng 631/22/HĐTD/1201-2207 ngày 04/7/2022.

2. Công nhận hiệu lực Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 631/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021, Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 631/21/HĐTC-BĐS/1201-2207 ngày 28/6/2021 đối với Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 667322, số vào sổ cấp GCN: CS06647 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 15/06/2016, với các đặc điểm cụ thể như sau: thửa đất số: 376; tờ bản đồ số: 11; diện tích: 264,7 m; hình thức sử dụng: sử dụng riêng; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: lâu dài; nguồn gốc sử dụng: được tặng cho đất được Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất; tọa lạc tại: xã B, huyện C, tỉnh An Giang; đứng tên bà Nguyễn Thị Tố Q.

3. Về chi phí thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 800.000đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố Q phải chịu 24.704.983 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

8

Kể từ bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án (không bao gồm khoản nợ nêu trên) theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K được nhận lại 11.051.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000016 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án 15 hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng trong thời hạn 15, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - CCTHADS huyện Châu Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yến Anh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 123/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản có thế chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger