Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM KỲ

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày 09/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Thanh

Ông Lê Minh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, giới tính: nam; Sinh ngày 25/6/1986 tại: thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT: khối phố H, phường H, Thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1963 và bà Trần Thị M (chết) trú tại khối phố H, phường H, TP ., tỉnh Quảng Nam. Gia đình có 02 người con, bị cáo là con đầu; bị cáo có vợ là Vương Thị V, sinh năm 1991 và 01 người con sinh năm 2018 cùng trú tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • Ngày 11/11/2020, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Ngày 05/3/2021, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành 24 tháng tù. Bị can chấp hành xong ngày 03/9/2022.

Nhân thân:

  • Ngày 21/12/2004, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 03/02/2007;
  • Ngày 30/6/2014, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 24/4/2016;
  • Ngày 08/3/2019, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 14 tháng; chấp hành xong ngày 05/10/2020;
  • Ngày 10/12/2020, bị Công an T7 xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2024 và chuyển tạm giam ngày 16/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T7.

Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Số A Đ, khối phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Lê T3, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Trần Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: Số A Đ, khối phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam;
  • + Ông Trần Đăng D, sinh năm 1962; địa chỉ: Số A Đ, khối phố G, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 06/5/2024, Nguyễn Ngọc T đang câu cá với bạn tại khu vực bờ sông gần bến sạn thuộc phường A, TP . thì nhận được điện thoại của Nguyễn Lê T3 (tên thường gọi Trí Q, sinh năm 1989, trú thôn B, xã T, huyện N) gọi đến hỏi “Mi đang ở đâu?”, T trả lời “Đang câu cá trong bến sạn”. Khoảng 10 phút sau, T3 điều khiển xe máy màu đen (không rõ đặc điểm) đến bến sạn chở T đi, trên đường đi T3 nói với T “Có nhà ni tao mở cửa được rồi”, nghe vậy T hiểu ý T3 là chở T đi trộm nên T không nói gì. T3 chở T đi theo đường T rẽ vào đường T (sát cơ sở gạch men T8) để ra đường Ông Ích K, tiếp tục rẽ phải đi về hướng đường Đ. Khi đến góc ngã tư đường Đ- Ông Í, T3 điều khiển xe rẽ phải đi vào đường bê tông khoảng 20m thì dừng lại trước khu vực nhà dân có để nhiều cây mai cảnh ngoài đường. T3 nói “mi quay đầu xe lại đứng chờ tao”, T hiểu ý nên quay đầu xe lại đứng chờ T3. Còn T3 đi bộ ngược lại đột nhập vào cửa sau nhà bà Nguyễn Thị Cẩm T2 (sinh năm 1964, trú Số A Đ, phường A, TP .) để trộm cắp tài sản.

Khoảng 15 phút sau, T3 đi ra trên tay cầm theo túi xách màu xanh đậm (túi xách lấy trộm trong nhà bà T2), T3 không nói gì với T mà ngồi lên xe điều khiển chở T về lại bến sạn theo hướng đi trước đó. Đến ngã ba đường bê tông gần bến sạn, ngay góc trụ điện thì T3 dừng xe lại. Tại đây, T3 lấy trong túi xách trộm cắp được trong nhà bà T2 ra đưa cho T 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1902, màu xanh đen và số tiền 1.020.000 đồng gồm các tờ mệnh giá 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, tiền lẻ mệnh giá từ 1.000đ, 2.000đ. T3 nói với T “Mi lấy đỡ một triệu tiêu có gì tính sau”, T nói lại “Tính gì tính có tiền rồi thì mi lấy xe đi”. Sau đó, T3 điều khiển xe đi, còn T đi bộ vào bến sạn tiếp tục câu cá.

Đến khoảng 02 giờ sáng cùng ngày, vợ chồng bà Thạch T4 dậy để đi vệ sinh thì phát hiện cửa sau nhà bị cạy cửa, kiểm tra tài sản trong nhà thì phát hiện bị mất trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1902 màu xanh đen và 01 túi xách da bên trong có số tiền 9.000.000 đồng. Sau đó, bà T2 đã đến Công an phường A trình báo sự việc.

Đến sáng ngày 07/5/2024, T lấy điện thoại hiệu ViVo màu xanh đen mà T3 đưa (điện thoại này không cài mật khẩu) gắn sim số 0762614163 của T vào để sử dụng và cài đặt gmail tên ngoctuantk1986@gmail.com; facebook tên “TUÂN NGUYÊN NGỌC” trong điện thoại để nhắn tin. Sau đó, T được Cơ quan CSĐT Công an thành phố T7 mời về làm việc, kiểm tra trên người T đang sử dụng chiếc điện thoại hiệu ViVo, màu xanh đen và T đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như nêu trên.

* Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo 1902 màu xanh đen, gắn sim số 0762614163.
  • - 01 (một) đĩa DVD-R màu vàng, có chữ M1, bên trong lưu 02 đoạn video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2024 (được trích xuất từ nhà của anh Đinh Công T5).
  • - 01 (một) đĩa DVD-R màu vàng, có chữ M1, bên trong lưu 02 đoạn video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2024 (được trích xuất từ nhà của anh Nguyễn Cảnh T6).

* Kết luận định giá tài sản: Theo Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung S21, màu đen trị giá 900.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo 1902 màu xanh đen trị giá 950.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 123/CT-VKSTK-HS ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: điểm a, khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.

Về Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:

  • Đối với điện thoại di động hiệu Vivo 1902 màu xanh đen. Đây là tài sản của bà Nguyễn Thị Cẩm T2 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T2 là phù hợp.
  • Đối với 02 đĩa DVD-R màu vàng, có chữ Maxell, bên trong lưu đoạn video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2024, đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.

* Về dân sự: Quá trình điều tra, bị hại bà Nguyễn Thị Cẩm T2 yêu cầu bồi thường lại giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S21 màu đen và số tiền 9.000.000 đồng đã bị mất trộm.

Căn cứ Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc Nguyễn Ngọc T có trách nhiệm bồi thường cho bà T2 giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S21 màu đen là 900.000 đồng và số tiền 9.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1]Tại phiên toà, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.

[2.2] Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Nguyễn Ngọc T đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nhưng vào rạng sáng ngày 06/5/2024, tại Số nhà A Đ, phường A, TP ., Nguyễn Ngọc T đã cùng với Nguyễn Lê T3 có hành vi tổ chức lén lút trộm cắp của bà Nguyễn Thị Cẩm T2 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1902 màu xanh đen và 01 túi xách da màu xanh đậm bên trong có số tiền 9.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 10.850.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Ngọc T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của cá nhân luôn được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm phạm luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương, do đó cần áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục đồng thời ngăn ngừa chung cho xã hội.

[2.4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc T đang có 02 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ tổng hợp 02 bản án chấp hành hình phạt chung tại Bản án số 24/2021/HSST ngày 05/3/2021 nên được tính một lần, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Phạm tội lần này thuộc trường phạm “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Về nhân thân: Ngày 21/12/2004, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 03/02/2007; Ngày 30/6/2014, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 24/4/2016; Ngày 08/3/2019, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 14 tháng; chấp hành xong ngày 05/10/2020; Ngày 10/12/2020, bị Công an T7 xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Những tình tiết này Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

[2.5] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp tái phạm làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.6] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Cẩm T2 yêu cầu bồi thường lại giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S21 màu đen và số tiền 9.000.000 đồng đã bị mất trộm là phù hợp. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ bồi thường cho bà T2 giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S21 màu đen là 900.000 đồng và số tiền 9.000.000 đồng.

[4] Xử lý vật chứng trong vụ án:

  • Đối với 02 đĩa DVD-R màu vàng, có chữ Maxell, bên trong lưu đoạn video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2024 cần lưu theo hồ sơ vụ án.

[5] Những vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Lê T3 đã có hành vi tham gia trộm cắp cùng với Nguyễn Ngọc T vào ngày 06/5/2024. Qua điều tra, xác minh đối tượng T3 đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T7 ra Quyết định truy tìm người đối với Nguyễn Lê T3, đồng thời đã vận động gia đình liên lạc với T3 đưa về trình diện, làm việc nhưng đến nay chưa có thông tin của đối tượng. Do đó đến nay chưa làm việc được với T để củng cố hồ sơ làm căn cứ khởi tố. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của T3 ra để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.

Qua làm việc, T khai vào ngày 06/5/2024, T3 gọi cho T qua điện thoại loại bàn phím màu đen, không rõ nhãn hiệu, gắn 02 sim (01 sim số 0762614163, sim còn lại T không nhớ số) nhưng T không nhớ là T3 đã gọi cho T qua sim nào. Sáng ngày 07/5/2024, điện thoại này bị hư nên T tháo sim 076261416 ra, gắn vào điện thoại hiệu Vivo 1902 màu xanh đen mà T3 đưa để sử dụng, còn điện thoại bàn phím và sim còn lại T đã vứt bỏ nhưng không nhớ đã vứt ở vị trí nào nên Cơ quan điều tra không truy tìm được. Đối với sim điện thoại số 0762.614.xxx, do quá trình điều tra chưa xác định được giữa T và T3 liên lạc với nhau qua số điện thoại nào, vì vậy Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ sim 0762614163 để điều tra, xác minh xử lý theo quy định.

Đồng thời, T khai T3 thường sử dụng nhiều số điện thoại khác nhau nên T không nhớ T3 đã gọi cho T bằng số điện thoại nào và T cũng không lưu số điện thoại của T3. Cơ quan điều tra đã có công văn yêu cầu Công ty D1 khu vực 3 cung cấp sao kê lịch sử cuộc gọi đi, cuộc gọi đến số thuê bao 0762614163 của T trong thời gian trên nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a, khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/5/2024).

  3. Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Cẩm T2 giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S21 màu đen là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) và số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

  4. Về xử lý vật chứng: Lưu theo hồ sơ 02 đĩa DVD-R màu vàng, có chữ Maxell, bên trong lưu đoạn video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2024.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 495.000 (bốn trăm chín mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (09/9/2024). Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, thành phố;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Quốc Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger