|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/DS-PT Ngày: 08-7-2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn
Ông Đặng Văn Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 84/2024/QĐ-PT ngày 01/4/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 40/TB-TA ngày 15/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐ-PT ngày 25/4/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 56/TB-TA ngày 15/5/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 39/2024/QĐPT-DS ngày 06/6/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 81/TB-TA ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh P, sinh năm 1972
Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 05/4/2021).
- Bị đơn: Ông Lê Thanh V, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Bích L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Thanh V.
Tại phiên tòa có mặt bà Nguyễn Thị Quỳnh P, ông Phan Thanh H, ông Lê Thanh V, bà Trần Thị Bích L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Ý kiến của nguyên đơn, theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 4 năm 2021 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Thanh H trình bày:
Nguyên đơn là người có quyền sử dụng thửa đất số 35, tờ bản đồ số 8, diện tích 1683m²,(ngang 25m x dài 66,5m) tọa lạc tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610769 do UBND thị xã L cấp ngày 03/9/2013, thửa đất có cạnh phía đông nam giáp đất ông Lê Thanh V.
Quá trình sử dụng, ông Lê Thanh V đã lấn chiếm của bà P với diện tích khoảng 189,5m², hiện trạng ông V đã xây dựng công trình nhà tường rào, chuồng nuôi bồ câu. Sau khi phát hiện, nguyên đơn đã yêu cầu UBND xã T hòa giải nhưng không có kết quả.
Vì vậy, nay nguyên đơn yêu cầu TAND thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận giải quyết buộc ông Lê Thanh V phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình đã xây dựng để trả lại cho bà Phương diện t đã lấn chiếm 189,5m² thuộc một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 8, diện tích 1683m² (ngang 25m x dài 66,5m) tọa lạc tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610769 do UBND thị xã L cấp ngày 03/9/2013. Tuy nhiên theo công văn số 1898/CN.VPĐKĐĐLG ngày 27/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L xác định ông V chỉ lấn chiếm 124,3m² nên ông chỉ yêu cầu buộc bị đơn phải trả lại 124,3m².
* Ý kiến bị đơn do người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Năm 1998 ông L1 (là người ở mảnh đất bà P hiện nay) để lại cho gia đình bị đơn một thửa đất. Phía trước giáp đường rộng 36m, phía sau 28m, có tổng diện tích là 4.160m², ông L1 đã kêu ông làm hàng rào từ đó đến nay. Gia đình bị đơn sử dụng ổn định đến năm 2007 thì được UBND thị xã L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 397445, thửa số 36, tờ bản đồ số 08, diện tích 2.059m², phần diện tích còn lại chưa được cấp sổ. Năm 2013, chồng bà P có nhờ ông Vũ k giáp ranh để ông, bà được cấp giấy CNQSD đất, tại thời điểm đó giữa ông V và bà P đã có ranh giới ổn định như hiện nay. Từ đó đến nay bà P không có ý kiến gì về ranh giới, nay bà P tranh chấp là vô lý. Bà P yêu cầu ông V trả 124,3m² là không có cơ sở nên bị đơn không đồng ý chấp nhận. Trường hợp nếu ông V thật sự làm nhà có lấn sang đất của bà P thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho ông V thanh toán lại giá trị đất đã lấn chiếm cho bà P theo giá Hội đồng định giá đã định.
* Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L:
Bà là vợ của ông Lê Thanh V. Năm 1998, vợ chồng bà được ông L1 để lại 01 thửa đất mà Hợp tác xã khai hoang có diện tích là 4.160m². Vợ chồng bà đã làm hàng rào, trụ xi măng làm ranh giới canh tác ổn định lâu dài. Năm 2007, thửa đất được nhà nước cấp giấy chứng nhận số AH 397445, cấp ngày 04/7/2007, thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, diện tích 2.059m². Phần còn lại chưa được cấp giấy nhưng vợ chồng bà vẫn sử dụng ổn định từ năm 1998 đến nay mà không có ai tranh chấp hay khiếu nại. Nay bà P yêu cầu vợ chồng bà tháo dỡ tài sản trả lại 189,5m² đất bà không đồng ý chấp nhận.
Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 29/10/2021 thể hiện, trên ranh giới đất có 03 cây trụ do ông Vũ t1 và 04 cây trụ do bà P trồng, phần tường rào và tường nhà của ông Lê Thanh V.
Tại sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L cung cấp thì diện tích đất hai bên tranh chấp là 189,5m², trong đó có 17,6m² là nhà ở của ông Lê Thanh V.
Tại công văn số 1173/CN.VPĐKĐĐLG ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L đã xác định, trong diện tích đất hai bên tranh chấp 189,5m², có 22,6m² nằm trong thửa đất số 35, tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610769 do UBND thị xã L cấp ngày 03/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P.
- Có một phần diện tích đất 166.9m² (trong đó có 17,6m² nhà) thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng số AH 397445 do UBND thị xã L cấp ngày 04/7/2007 cho ông Lê Thanh V.
Tại công văn số 1898/CN.VPĐKĐĐLG ngày 27/9/2023 có nội dung:
Việc xác định tại công văn 1173/CN.VPĐKĐĐLG ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L có sự nhần lẫn trong quá trình dựng hình lại các Giấy chứng nhận trong khu vực đất tranh chấp nên phần diện tích đất tranh chấp thuộc Giấy chứng nhận bị nhầm lẫn. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L đã dựng lại phần diện tích đất tranh chấp 189,5m² (trong đó có 17,6m² nhà) với Giấy chứng nhận số BO 610769 cấp ngày 03/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P và Giấy chứng nhận số AH 397445, cấp ngày 04/7/2017 cho ông Lê Thanh V, cụ thể:
- Có một phần diện tích đất 124,3m² (trong đó có 10.0m² nhà) thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610769 do UBND thị xã L cấp ngày 03/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P.
- Có một phần diện tích đất 65,2m² (trong đó có 7,6m² nhà) thuộc thửa đất số 36, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng số AH 397445 do UBND thị xã L cấp ngày 04/7/2007 cho ông Lê Thanh V.
- Tại biên bản thẩm định tài sản ngày 29/10/2021 thể hiện giá đất thị trường 700.000 đồng/m².
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
Điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Quỳnh P. Buộc ông Lê Thanh V và bà Trần Thị Bích L phải di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P 124,3m² đất thuộc một phần thửa đất 35, tờ bản đồ số 8, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610769 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 03/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P. (Kèm theo sơ đồ khu đất tranh chấp và công văn số 1898/CN.VPĐKĐĐLG ngày 27/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã L).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09 tháng 10 năm 2023, bị đơn ông Lê Thanh V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá khách quan toàn bộ chứng cứ vụ án nên áp dụng pháp luật chưa đúng theo quy định làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn ông Lê Thanh V yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để đưa ông Lê Văn H2 và ông Lê Hoàng P1 (con ông H2) vào tham gia tố tụng, vì ông V cho rằng diện tích đất tranh chấp ông V đã cho ông Lê Văn H2 vào khoảng năm 2004, các tài sản trên đất tranh chấp là của gia đình ông Lê Văn H2 nên ông V và bà L không có quyền quyết định đối với tài sản trên đất. Hiện ông V chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Nguyên đơn yêu cầu không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông Lê Văn H2 và ông Lê Hoàng P1 có mặt tại phiên tòa phúc thẩm và cho rằng đất tranh chấp là do ông Lê Thanh V cho, còn tài sản trên đất là của gia đình ông H2. Tòa sơ thẩm tuyên buộc di dời tài sản để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P không có ý kiến của gia đình ông nên ông yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Thanh V và bà Trần Thị Bích L khai tài sản trên đất tranh chấp là của gia đình ông Lê Văn H2 nên bị đơn không có quyền quyết định. Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương cho biết tài sản trên đất tranh chấp là của gia đình ông Lê Văn H2, bà Huỳnh Thị L2 xây dựng. Gia đình ông H2 có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T vào năm 2014. Hiện nay ông H2 và con trai ông đang ở trong căn nhà này. Do đó, đây là tình tiết phát sinh mới tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm xử tuyên buộc ông Lê Thanh V và bà Trần Thị Bích L phải di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P, trong khi chưa có ý kiến của ông Lê Văn H2 là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H2. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông H2 và đưa gia đình ông H2 vào tham gia tố tụng thì cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn ông Lê Thanh V kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Thanh V và bà Trần Thị Bích L khai tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông V không nắm rõ về các tài sản trên đất và đất hiện nay ông V đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khi tòa án cấp sơ thẩm đi xem xét, thẩm định ông khai các tài sản trên đất là của ông. Tại phiên tòa phúc thẩm ông V và bà L khai nại các tài sản trên đất tranh chấp là của gia đình ông Lê Văn H2 nên ông V và bà L không có quyền quyết định đối với tài sản trên đất.
[3] Ngày 21/6/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình ông Lê Văn H2 yêu cầu tòa án xác định gia đình ông là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, vì tài sản trên đất tranh chấp là của gia đình ông. Tòa sơ thẩm tuyên buộc ông V và bà L di dời tài sản để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P nhưng không có ý kiến của gia đình ông nên ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đất và tài sản trên đất tranh chấp và xác minh tại chính quyền địa phương cho biết: Gia đình ông Lê Văn H2 và bà Huỳnh Thị L2 về sinh sống tại thôn P, xã T vào khoảng năm 1999, sau đó gia đình ông H2 có cất nhà trên đất và ở cho đến nay. Năm 2014 gia đình ông H2 đăng ký hộ khẩu tại thôn P, xã T. Năm 2016 con của ông H2 và bà L2 mất. Năm 2021 bà Huỳnh Thị L2 mất. Hiện nay chỉ còn ông H2 và con trai Lê Hoàng P1 đang ở trên đất.
[5] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh P, buộc ông Lê Thanh V và bà Trần Thị Bích L phải di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại cho bà P 124,3m² thuộc một phần thửa đất số 35, tờ bản đồ số 8, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 610769 do UBND thị xã L cấp ngày 03/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh P, trong khi chưa có ý kiến của gia đình ông Lê Văn H2 đối với tài sản trên đất là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông H2. Xét thấy, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm mà Tòa phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông H2, cần phải đưa gia đình ông H2 vào tham gia tố tụng để giải quyết vụ án một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện theo đúng quy định của pháp luật thì cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Đối với số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm là 3.500.000 đồng ông Lê Thanh V tự nguyện chịu. Số tiền này ông V đã nộp đủ nên không phải nộp nữa.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy, nên bị đơn ông Lê Thanh V kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Thanh V về yêu cầu hủy án sơ thẩm để đưa gia đình ông Lê Văn H2 vào tham gia tố tụng.
[2] Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã La Gi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng khác:
Người kháng cáo ông Lê Thanh V không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Lê Thanh V 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016825 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Ông Lê Thanh V tự nguyện chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền này ông V đã nộp đủ nên không phải nộp nữa.
Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng khác được xác định lại khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (08/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Phong Lan |
Bản án số 123/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 123/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Quỳnh P - Lê Thanh V "Tranh chấp quyền sử dụng đất". Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, huỷ bản án sơ thẩm
