|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày 07-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Cần.
Ông Tống Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1989 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Đoàn Thị P; tiền án: không, tiền sự: không; ngày 19/01/2024 bị bắt, tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: bà Nguyễn Kiều T, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: phòng số 16, nhà trọ Chú B, số H, đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (cha của bị cáo); có mặt.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên K; địa chỉ: số A, đường N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Văn D, chức vụ: Chủ tịch kiêm Giám đốc; vắng mặt.
- Bà Võ Thị Hồng Đ, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện nay: số A, đường N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: ông Phạm Văn C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Kiều T sống chung với nhau như vợ chồng tại phòng trọ thuộc phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khoảng tháng 05/2021, N và T xảy ra mâu thuẫn nên T đã chuyển đến làm việc và ở tại quán C1 thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/5/2021, Nguyễn Kiều T đang bán cà phê tại quán C1 thì Nguyễn Văn N đến gặp T nói chuyện muốn hàn gắn tình cảm với nhau nhưng T không đồng ý. Lúc này, N lấy xe mô tô biển số 69N1-438.66, nhãn hiệu Airblade của T đang dựng trong quán rồi kêu T lên xe để N chở về phòng trọ chung của 02 người tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng T không đồng ý nên N điều khiển xe mô tô của T chạy về phòng trọ. Sau đó, T gọi điện thoại cho N yêu cầu trả lại xe mô tô thì N nói cho N mượn xe đi làm vì xe của N bị hư thì Tiên đồng ý cho N mượn xe 01 tuần.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/5/2021, T nhớ lại có để trong cốp xe mô tô biển số 69N1-438.66 một hộp nhựa đựng vàng gồm 01 sợi dây chuyền vàng 18K kiểu dáng mắt xích có mặt chữ "H" trọng lượng 6,02 chỉ, 01 lắc tay nữ loại vàng 610 kiểu dáng chữ “H” trọng lượng 8,048 chỉ, 01 chiếc lắc tay loại vàng 610 trọng lượng 06 chỉ, 01 nhẫn nữ loại vàng 610 kiểu nơ trọng lượng 1,05 chỉ và 01 nhẫn nữ loại vàng 610 loại vàng 18K kiểu dáng đính hạt trọng lượng 0,7 chỉ nên T gọi điện thoại và nhắn tin cho N đem trả lại hoặc cất giùm cho T thì N nói sẽ cất giữ số vàng cho T.
Ngày 13/5/2021, N điều khiển xe mô tô biển số 69N1-438.66 đem vàng đến quán cà phê Ngọc T1 để trả cho T nhưng không có T ở đây, lúc này N đang thiếu tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số vàng của T đem đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, N đi đến tiệm V thuộc số A N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp bà Võ Thị Hồng Đ cầm 01 (một) sợi dây chuyền có mặt chữ "H" vàng 18K trọng lượng 06 chỉ 02 phân, ký hiệu 610 với số tiền 18.000.000 đồng. Đến ngày 14/05/2021, N tiếp tục quay lại tiệm V để trả giấy cầm đồ và bán sợi dây chuyền trên trừ đi chi phí cầm số tiền 700.000 đồng thì N được bà Đ trả thêm số tiền 500.000 đồng. Tổng giá trị sợi dây chuyền vàng Ngữ bán là 19.200.000 đồng.
Ngày 15/5/2021, N tiếp tục đem 02 chiếc lắc vàng và 02 chiếc nhẫn vàng đi cầm tại một tiệm vàng (không nhớ rõ tên, địa chỉ) thuộc khu C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trong đó: 01 chiếc lắc tay vàng trọng lượng 08 chỉ 0 phân 04 ly cầm được số tiền 16.000.000 đồng, 01 chiếc lắc tay trọng lượng 06 chỉ cầm được số tiền 14.500.000 đồng, 01 chiếc nhẫn trọng lượng 01 chỉ 0 phân 5 ly cầm được số tiền 2.200.000 đồng và 01 chiếc nhẫn trọng lượng 07 ly cầm được số tiền 1.800.000 đồng. Tổng số tiền N cầm là 34.500.000 đồng.
Ngày 17/5/2021, N đem xe mô tô biển số 69N1 - 438.66 trả lại cho T tại nhà trọ thuộc phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, T nhiều lần gọi điện thoại và nhắn tin yêu cầu N trả lại số vàng nhưng N không trả. Ngày 30/5/2021, T đến Công an phường T trình báo sự việc trên. Công an phường T xác lập hồ sơ và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 19/01/2024, Nguyễn Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khai báo về hành vi chiếm đoạt toàn bộ số nữ trang của Nguyễn Kiều T đã để trong cốp xe mô tô biển số 69N1 - 438.66.
Tại Kết luận định giá tài sản số 97/KLTS-TTHS ngày 29/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 70.908.500 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Kiều T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 70.908.500 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 45.000.000 đồng; còn lại số tiền 25.908.500 đồng, bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường.
Tại Cáo trạng số 144/CT-VKSTU ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho bị hại là 25.905.500 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn N và bị hại Nguyễn Kiều T không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn H trình bày ý kiến: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã về nhà nhờ ông H bồi thường cho bị hại và ông H đã bồi thường được số tiền 45.000.000 đồng. Ông H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/5/2021, tại khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn N có hành vi mượn xe mô tô biển số 69N1-438.66 của bị hại Nguyễn Kiều T để đi làm. Bị hại để trong cốp xe 01 số vàng gồm: 01 (một) sợi dây chuyền loại móc xích có mặt chữ “H” loại vàng 18K, trọng lượng 06 chỉ 0 phân 2 ly; 01 (một) lắc tay nữ chữ "H" loại vàng 610, trọng lượng 08 chỉ 0 phân 4 ly 8 si; 01 (một) lắc tay nữ trang loại vàng 610, trọng lượng 06 chỉ; 01 (một) nhẫn nữ kiểu nơ loại vàng 610, trọng lượng 01 chỉ 0 phân 5 ly; 01 (một) nhẫn nữ có đính hạt loại vàng 18K, trọng lượng 7 phân nên đã nhờ bị cáo cất giùm. Ngày 17/5/2021, bị cáo đem xe mô tô đến trả cho bị hại; còn số vàng nêu trên thì đem đi cầm cố, bán lấy tiền tiều xài rồi bỏ trốn.
Hành vi mượn xe mô tô và lấy tài sản của bị hại để trong cốp xe đi cầm cố có giá trị 70.908.500 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được điều đó nhưng với bản tính tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản với mục đích tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bà nội tên Nguyễn Thị B được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, có ông ngoại tên Đoàn Văn P1 là liệt sĩ. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 70.908.500 đồng; cha của bị cáo là ông Nguyễn Văn H đã bồi thường cho bị hại số tiền 45.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 25.908.500 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Đối với hành vi của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên K nhận cầm cố, mua vàng của bị cáo. Do Công ty không biết số vàng bị cáo mang đến cầm là do thực hiện hành vi phạm tội mà có nên không đủ căn cứ xem xét xử lý hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với công ty.
- Đối với tiệm V1, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã nhận cầm cố vàng của bị cáo. Do bị cáo không nhớ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương không có cơ sở để xác minh, xử lý là phù hợp.
- Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội, bị kết án và phải bồi thường cho bị hại nên phải chịu án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại Nguyễn Kiều T số tiền 25.908.500 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm linh tám nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.295.425 đồng (một triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt TS
