TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-ST Ngày 07/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Chương
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QÐST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 06/02/2005 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở trước khi bị bắt: số A Hồ Q, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Hoàng Xuân C, sinh năm 1969; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 12 năm 2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 21/12/2023 tại Phòng số 101, nhà nghỉ H1, địa chỉ số17 Hồ Q, Phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát hiện bắt quả tang Hoàng Thị Thu H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (MDMA và Ketamine) đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Hoàng Thị Thu H khai nhận: Căn phòng số 101 nhà nghỉ H1 tại địa chỉ số A Hồ Q, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do H thuê khoảng 02 tháng trước. Để giảm chi phí, H ở ghép cùng với Phạm Châu N1 (Sinh năm: 2003; HKTT: số C L, Phường G, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Võ Ngọc Như Ý (Sinh năm: 2007; HKTT: số A H, Phường C, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Võ Văn Kim T1 (Sinh năm:1996; HKTT: số D T, Phường E, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và Trần Vũ Tuấn A (Sinh năm: 2005; HKTT: số I B, Phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 20/12/2023, khi H đang ở tại Phòng số 101, nhà nghỉ H1 thì có một người bạn xã hội của H tên Tuấn M (không rõ nhân thân, lai lịch) đến phòng chơi. Tại đây, T2 mập đưa cho H 02 (Hai) gói nylon chứa ma túy “Khay” và 01 (một) gói nylon chứa 02 (Hai) viên “thuốc lắc” màu xanh nhờ H giữ dùm. Khi cần, T2 sẽ trực tiếp đến gặp H để lấy và cùng sử dụng. Sau khi nhận số ma túy trên, H đem cất giấu vào trong bịch khẩu trang để dưới đất, gần tủ lạnh trong phòng. Đến 10 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, khi H đang ở phòng thì lực lượng Công an phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Việc H cất giấu ma túy thì những người khác không biết và không liên quan.
Lời khai của Hoàng Thị Thu H phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (các bút lục điều tra số 28), phù hợp với lời khai của người chứng kiến là chị Nguyễn Thị L ( sinh năm: 2005; trú tại: số A Hồ Q, Phường T, Thành phố V) (các bút lục điều tra số 63,64), người làm chứng Phạm Châu N1, Võ Ngọc Như Ý, Võ Văn Kim T1 và Trần Vũ Tuấn A (các bút lục điều tra số 65-73) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.
Theo Bản kết luận giám định số: 49/KL-KTHS-MT ngày 26/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết Luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường T – Công an T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Phạm Văn S, Lê Văn K, Hoàng Thị Thu H, Nguyễn Thị L, bên trong có: 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh màu trắng gửi đến giám định có khối lượng 0,7467 gam, là ma túy, loại Ketamine; 02 (hai) viên nén màu xanh dương, hình tròn gửi đến giám định có khối lượng 0,6898 gam, là ma túy, loại MDMA. (bút lục điều tra số 32).
Hoàng Thị Thu H tàng trữ 0,6898 gam, là ma túy, loại MDMA và 0,7467 gam, là ma túy, loại Ketamine, đây là chất ma túy khác ở thể rắn, nhằm mục đích sử dụng. Cả hai chất ma túy này đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018 ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, xác định tổng tỷ lệ phần trăm của các chất ma túy trên như sau:
- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 249Bộ luật hình sự là 13,796% (0,6898 gam so với 05 gam).
- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) được quy định tại điểm 1, khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 3,7335% (0,7467 gam so với 20 gam).
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy MDMA với Ketamine: 13,796% + 3,7335% = 17,5295%.
Như vậy, theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018 ngày 02/02/2018, tổng khối lượng ma túy trên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sảngồm:
- 02 (hai) gói nylon dạng túi zip bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) gói nylon dạng túi zip bên trong chứa 02 (hai) viên nén màu xanh dương; Sau giám định phòng K1 Công an tỉnh B hoàn lại 01(một) gói niêm phong số: 49/KL-KTHS– MT, ngày 28/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
- 01 (một) điện thoại Iphone XR màu đỏ, số IMEI: 356426105813155.
Hiện chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 103/CT-VKSTPVT ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Hoàng Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 15 năm đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động 01 (một) điện thoại Iphone XR màu đỏ, số IMEI: 356426105813155.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 21/12/2023, tại Phòng số 101, nhà nghỉ H1, địa chỉ số17 Hồ Q, Phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát hiện bắt quả tang Hoàng Thị Thu H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,7467 gam, là ma túy, loại Ketamine và 0,6898 gam, là ma túy, loại MDMA, H tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy là tang vật trong vụ án còn lại sau giám định (49/KL-KTHS– MT, ngày 28/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại Iphone XR màu đỏ, số IMEI: 356426105813155, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
[6] Đối với Phạm Châu N1, Võ Ngọc Như Ý, Võ Văn Kim T1 và Trần Vũ Tuấn A không biết và không liên quan đến việc Hoàng Thị Thu H tàng trữ trái phép chất ma túy tại Phòng số 101, nhà nghỉ H1, địa chỉ số17 Hồ Q, Phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên không xem xét xử lý đối với N1, Ý, T1 và Tuấn A.
Đối với đối tượng tên Tuấn M (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đưa ma túy cho H, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ: Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị Thu H: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định 49/KL-KTHS– MT, ngày 28/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B).
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Thị Thu H: 01 (một) điện thoại Iphone XR màu đỏ, số IMEI: 356426105813155.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 159/BB-CCTHADS ngày 09/4/2024.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Nga |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Thu Hương
