Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Thanh Tâm

2. Bà Lê Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lanh Linh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Trung D1 sinh năm 1985, tại: Đồng Nai.

Nơi cư trú: tổ A, ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông: Trần Đức H năm 1949; con bà: Trần Thị H1 sinh năm 1953; có vợ: Phan Thị L năm 1987; có 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 14-8-2023 cho đến nay, (Có mặt).

2. Trần Thanh T năm 1982, tại: Đồng Nai.

Nơi cư trú: tổ A, ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn P(đã chết); con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1950; có vợ: Nguyễn Thị T1 sinh năm 1987; có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 14-8-2023 cho đến nay, (Có mặt).

Các bị hại:

1. Anh Hoàng Văn B năm 1997; nơi cư trú: tổ A, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).

2. Anh Đặng Hoàng P1 năm 1992; nơi cư trú: tổ A, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Trần Việt S năm 1986. Địa chỉ: tổ A, ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).

2. Chị Phan Thị L năm 1987. Địa chỉ: tổ A, ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghi ngờ anh Trần Việt S năm 1989 nói xấu mình, nên khoảng 00 giờ 10 phút ngày 05-6-2023, Hoàng Văn B năm 1997 rủ Đặng Hoàng P1 sinh năm 1992 đến nhà anh S1 giải quyết mâu thuẫn, khi đi B1 nói cho P1 biết vào nhà S để giải quyết mâu thuẫn, mà nói với P1 là vào nhà anh S1 nhậu. Khi đi B mang theo 1 con dao tự chế dài khoảng 45cm cất giấu trong người và ngồi sau xe do P1 chở đến nhà của anh S2 đến nhà anh S3 cửa khóa nên B2 la lối gọi anh S4 thấy ồn ào nên Trần Trung D (họ hàng của S5 nhắc nhở thì B và D1 xảy ra cự cãi, P1 có lời nói khiêu khích đối với D1: “Mày thích gì thì bước ra ngoài đường”. Khi D1 đi ra ngoài, B3 tay phải cầm con dao mang theo đi đến chỗ D1 chém 02 nhát vào người D1 nhưng D1 dùng tay chụp được con dao trên tay B rồi cả hai giằng co ngã xuống đất. Thấy vậy, P1 chạy đến can ngăn. Vì nghĩ P1 chạy đến đánh D1 nên Trần Thanh T1 (hàng xóm của D1 nhặt 01 cây gậy tre dài 65cm đánh vào người P1 02 cái làm P1 ngã xuống đất và đánh B 01 cái để cứu D1. D1 sử dụng dao tước được của B chém B và P1 gây thương tích. Sau đó, B4 P1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ điều trị.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 1023/CN-BV ngày 29-6-2023 của Bệnh viện Đ thể hiện Đặng H1 P1 vào viện lúc 01 giờ 25 phút ngày 05-6-2023 có những thương tích sau: (1) 01 vết thương đỉnh kích thước 05cm x 01cm x 0.5cm; (2) 01 vết thương trán kéo dài xuống chân tóc kích thước 12cm x 1.5cm x 0.5cm; (3) Vết xướt má phải dài 1.5cm; (4) Vết xướt trán phải dài 1.5cm; (5) 02 vết xướt ở cổ dài 08cm, vết xước góc hàm trái dài 05cm; (6) Đa xây xát nhiều vùng cơ thể; (7) Kết quả chụp CT-Scanner sọ não: không thấy tổn thương nội sọ trên phim. Sưng nề mô mềm vùng trán - đỉnh phải.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 1048/CN-BV ngày 05-7-2023 của Bệnh viện Đ thể hiện Hoàng Văn B5 viện lúc 01 giờ 26 phút ngày 05-6-2023 có những thương tích sau: (1) 01 vết thương chẩm kích thước 04cm x 01cm x 0.5cm; (2) 01 vết thương phần mềm mu cẳng tay phải kích thước 01cm x 01cm; (3) 01 vết thương phần mềm kẽ ngón 1, 2 bàn tay phải kích thước 03cm x 02cm x 01cm; (4) 01 vết thương phần mềm lòng bàn tay phải kích thước 01cm x 01cm.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0728/KLTTCT-TTPYĐN ngày 20-7-2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Hoàng P1 tại thời điểm giám định là 22% (áp dụng phương pháp cộng tại TT 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019). Vật gây thương tích là vật sắc.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0728/KLTTCT-TTPYĐN ngày 20-7-2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn B6 thời điểm giám định là 06% (áp dụng phương pháp cộng tại TT 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019). Vật gây thương tích: thương tích đầu và cẳng tay phải là vật tày hoặc vật tày có cạnh; thương tích bàn tay phải là vật sắc.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1134/KLTTCT-TTPYĐN ngày 01-12-2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần T2 D1 tại thời điểm giám định là 09% (áp dụng phương pháp cộng tại TT 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019). Vật gây thương tích là vật sắc.

Về trách nhiệm dân sự: T6 tự nguyện bồi thường cho anh Đặng Hoàng P2 tiền 8.500.000 đồng và Hoàng Văn B7 số tiền 1.000.000 đồng. Anh P1 và B8 nhận đủ số tiền, không yêu cầu gì khác và làm đơn bãi nại cho các bị can D1T

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS-LK ngày 04 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo Trần Trung D1 Thanh T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), về tội danh: đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội: “Cố ý gây thương tích”; về hình phạt: đề nghị xử phạt các bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận.

Các bị hại bảo lưu quan điểm, không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo D1: Bị cáo ân hận về hành vi của mình, biết hành vi là sai, vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.

- Bị cáo T: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, các dấu vết tổn thương để lại trên người các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: do bức xúc trước hành vi của các bị hại, giữa đêm khuya la lối, gây ồn ào, thách thức bằng lời nói, bị cáo D1 đã dùng dao tự chế bằng kim loại, lưỡi dao dài 30cm, cán gỗ dài 15cm (tước được từ trên tay bị hại B bị cáo T sử dụng gây tre dài 63cm, đường kính 3,5cm gây thương tích cho các bị hại, Đặng Hoàng P1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22%, Hoàng Văn B9 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%. Trong vụ án này, mặc dù các bị hại BP1 có hành vi trái pháp luật, gây bức xúc cho các bị cáo và cũng là nguyên nhân xảy ra vụ án. Tuy nhiên, bản thân các bị cáo có điều kiện về thời để lựa chọn phương án giải quyết khác (như báo với chính quyền địa phương hoặc người có thẩm quyền giải quyết). Thay vào đó, bị cáo D1 sau khi tước được dao trên tay bị cáo B10 sử dụng để chém lại nhóm P1B bị cáo T3 nghĩ rằng D1 bị vây đánh nên đã dùng cây tre đánh để giải cứu, cũng đã gây thương tích cho nhóm bị hại. Do đó, quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

[3] Về khung hình phạt:

Các bị cáo sử dụng dao sắc nhọn, gây tre dài là hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho bị hại P1 (tỷ lệ 22%), bị hại B (tỷ lệ 6%), nên đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; đã tích cực bồi thường thiệt hại, được các bị hại bãi nại trách nhiệm dân sự nên áp dụng cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); ngoài ra, nguyên nhân xảy ra vụ án ban đầu do các bị hại có hành vi la lối, gây ồn ào, mất trật tự tại khu vực có người dân sinh sống, có lời nói thách thức các bị cáo, do đó áp dụng thêm cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về tính chất đồng phạm:

Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, cả hai đều là người thực hành, trong đó vai trò của bị cáo D1 trong vụ án lớn hơn, thương tích của các bị hại phần lớn do bị cáo D1 sử dụng dao (vật sắc) gây ra, nên mức hình phạt của bị cáo D1 phải cao hơn bị cáo T

[8] Về căn cứ quyết định hình phạt:

Vụ án xảy ra có một phần lỗi của các bị hại, khi có hành vi gây rối tại khu vực nhà của các bị cáo; bản thân các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình có con nhỏ, nhất thời phạm tội nên xét không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Riêng bị cáo Trần Thanh T4 gia với vai trò thấp hơn trong vụ án nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T5 mức thấp nhất mà khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, các bị hại không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về vật chứng:

Một con dao tự chế bằng kim loại, dài 45cm (lưỡi dao dài 30cm, cán gỗ dài 15cm); Một đoạn gậy tre dài 63cm, đường kính 3,5cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí:

Các bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[13] Về các vấn đề khác:

Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên nhân xảy ra vụ án xuất phát từ việc các bị hại BP1 đêm khuya đến nhà người khác la lối, khiêu khích. Lời khai của B4 P1 về việc P1 không biết B đến nhà tìm S1 gây thương tích là không phù hợp với thực tế khách quan. Ngoài ra, khi đến nơi P1 và B còn cùng nhau chửi bới, gây rối trật tự, khi gặp D1 thì P1 còn có lời nói khiêu khích: “Mày thích gì thì bước ra ngoài đường”. Điều này thể hiện rằng, P1 đã tiếp nhận ý chí của B11 việc sẽ đến tìm và đánh S B có hành vi sử dụng dao chém 02 nhát vào tay của D1 thương tích 9%, mặc dù không khởi tố do không có yêu cầu của bị hại, tuy nhiên cần xem xét xử lý trách nhiệm hình sự của BP1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự mới đảm bảo nguyên tắc công bằng trong việc xử lý các hành vi phạm tội. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để xem xét trách nhiệm hình sự của BP1 nhưng Viện kiểm sát thành phố L không thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hành vi có dấu hiệu của tội gây rối trật tự công cộng của Hoàng Văn B Đặng H2 P1 xảy ra vào hồi khoảng 00 giờ 10 phút ngày 05-6-2023 tại khu vực ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (áp dụng riêng cho bị cáo T

- Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP.

- Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 4 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo Trần Trung D1 Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

  2. Về hình phạt:

    2.1. Xử phạt bị cáo Trần Trung D2 (H3) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06-8-2024).

    2.2. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06-8-2024).

    Giao các bị cáo Trần Trung D1 Trần Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  3. Kiến nghị của Hội đồng xét xử:

    Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ1, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hành vi có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, của Hoàng Văn B Đặng H2 P1 xảy ra vào hồi khoảng 00 giờ 10 phút ngày 05-6-2023 tại khu vực ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

  4. Về vật chứng:

    Tiêu huỷ Một con dao tự chế bằng kim loại, dài 45cm (lưỡi dao dài 30cm, cán gỗ dài 15cm); Một đoạn gậy tre dài 63cm, đường kính 3,5cm, (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-3-2024).

  5. Về án phí:

    Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo, các bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

  7. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND thành phố Long Khánh (2);
  • - CQCSĐT CA thành phố Long Khánh (1);
  • - CQTHAHS CA thành phố Long Khánh (1);
  • - CCTHADS thành phố Long Khánh (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại (3);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1)
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung Dũng và đồng phạm có hành vi cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger