TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/DS-ST Ngày: 05/9/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tô Ngọc Liêm;
- Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 103/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi, hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 373/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 363/2024/QĐHPT ngày 15 tháng 7 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 403/2024/QĐHPT ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị D, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp M, xã X, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1986; địa chỉ: số nhà E, tổ A, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Ông Phan Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: số nhà E, tổ A, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị D trình bày, do chỗ quen biết với vợ chồng bà N, ông T có tham gia hụi do bà N làm chủ, số tiền bà N hưởng hoa hồng từ các hụi viên khác hốt. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở giá hụi cao nhất thì được hốt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho người hốt được và hưởng hoa hồng. Bà tham gia 02 dây hụi do bà N làm chủ như sau:
Dây hụi thứ nhất: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 29/02/2020 (al) hụi có 27 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên M 6 T nằm số thứ tự số 6,7). Hụi khui đến lần thứ 14 thì bà N tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 13 lần hụi sống, số tiền bà được hưởng là 13 lần: 13 x 2 = 26 x 2.000.000 = 52.000.000.đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 15/7/2021 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này một phần chủ hụi ghi tên tôi Mợ 6 Thái nằm số thứ tự 2 và một phần ghi tên Mợ Ú nằm số thứ tự 3), do bà Út N1 chủ hụi không cho chơi nên bà lấy tên Mợ Út N1 để tham gia, hụi khui đến lần thứ 17 thì bà N tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được số tiền hụi sống là 16 lần: 16 x 2 = 32 x 5.000.000 đồng = 160.000.000 đồng, H hiện nay đã mãn.
Tổng cộng 02 dây hụi mà bà được hưởng là 212.000.000 đồng.
Ngoài ra, do bà có bà N, ông T vay số tiền 40.000.000 đồng để làm ăn, thời hạn vay trong vòng 01 tháng sẽ trả lại, hai bên không thỏa thuận lãi suất, do chổ quen biết nên bà không có làm biên nhận, đối với phần tiền vay 40.000.000 đồng cho bà xin rút lại không yêu cầu. Tại phiên tòa bà xin rút lại yêu cầu đối với ông T không cùng có nghĩa vụ liên đới với bà N trả cho bà số tiền hụi là 212.000.000 đồng.
Nay, bà yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi 212.000.000 đồng (hai trăm mười hai triệu đồng) không yêu cầu tính lãi suất.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên (bản photo).
- Bà Nguyễn Thị Kim N, ông Phan Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Trương Thị D đã cung cấp các tài liệu chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N, ông Phan Văn T vắng mặt không có ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Do quen biết nên bà Trương Thị D tham gia 02 dây hụi do bà Nguyễn Thị Kim N làm chủ, cụ thể:
Dây hụi mở ngày 15/7/2020 (âm lịch), gồm 24 phần, bà D tham gia 02 phần, đã đóng hụi được 16 lần, số tiền 160.000.000 đồng. Hụi đã mãn ngày 02/9/2022;
Dây hụi mở ngày 29/02/2020 (âm lịch), gồm 27 phần, bà D tham gia 02 phần, đã đóng hụi được 13 lần, số tiền 52.000.000 đồng. Hụi mãn ngày 22/4/2022.
Tổng số tiền 02 dây hụi là 212.000.000 đồng. Ngoài ra, bà N còn vay bà D số tiền 40.000.000 đồng. Nay bà D khởi kiện yêu cầu bà N và ông Phan Văn T (chồng bà N) trả số tiền hụi 252.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 40.000.000 đồng và yêu cầu đối với ông T cùng bà N liên đới trả tiền cho bà D nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phía bà N, ông T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy, căn cứ bà D khởi kiện là sổ hụi ngày 29/02/2020 (âm lịch) và ngày 15/7/2021 (âm lịch), thể hiện bà D có tham gia 04 phần trong 02 dây hụi này. Tại dây hụi ngày 15/7/2021 (âm lịch), bà D có tên là Mợ Út N1 là do bà N1 vô nhưng bà N không đồng ý nên bà D đã tham gia phần của bà N1. Từ đó có cơ sở xác định được bà D có tham gia hụi do bà N làm chủ, bà N tự ý ngưng hụi và còn nợ tổng số tiền 212.000.000 đồng. Do đó, bà D khởi kiện là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân sự.
Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471 Bộ luật Dân sự:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị D số tiền hụi 212.000.000 đồng.
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện đối với ông Phan Văn T và số tiền vay 40.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị Dứt H1 kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim N, ông Phan Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi 212.000.000 đồng. Bà N, ông T có nơi cư trú tại ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N, ông Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt ông T, bà N. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà N theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Qua lời khai và lời trình bày của bà Trần Thị D1 tại các biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình bà giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định giữa bà D1 với bà N có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, không trái đạo đức xã hội, do bà N tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục nhưng bà N không trả số tiền hụi khi bà D1 có yêu cầu là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà D1 cung cấp có danh sách 02 dây hụi thể hiện dây hụi được bà N ghi tên “Mợ 6 Thái, Mợ Ú” nằm các số thứ tự số 2,3 và 6,7 trong 02 dây hụi.
Lời khai của người làm chứng cùng với dây hụi với bà D1 thì cũng xác định bà D1 có tham gia chơi hụi trong các dây hụi mà bà N làm chủ và hiện nay bà N còn thiếu lại bà D1 số tiền hụi là 212.000.000 đồng (hai trăm mười hai triệu đồng).
Như vậy, lời khai của bà D1 phù hợp với danh sách hụi và lời khai của những người tham gia chơi hụi cùng bà D1. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D1.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:
Bà D1 yêu cầu bà N, ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 212.000. 000 đồng (hai trăm mười haitriệu đồng).
Xem xét yêu cầu liên đới thấy rằng, mặc dù, ông T có cùng bà N xác lập hợp đồng về hụi với bà D1 hay không, nhưng hiện nay bà N, ông T không có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân ông bà không hợp pháp, vì vậy bà D1 yêu cầu bà N, ông T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 212.000.000 đồng (hai trăm mười hai triệu đồng) là không có cơ sở.
Tại phiên Tòa bà D1 xin rút lại yêu cầu liên đới đối với ông T, rút lại yêu cầu đối với số tiền vay, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên cần Đình chỉ đối với yêu cầu này là phù hợp với quy định pháp luật được quy định tại Điều 217, 218, 244 - Bộ luật tố tụng dân sự.
Xem xét yêu cầu nghĩa vụ trả nợ của bà N nhận thấy, giữa bà D1 với bà N cùng xác lập hợp đồng góp hụi với nhau, nhưng bà N tự ý không hụi tiếp tục và cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà D1, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên buộc bà N có nghĩa vụ trả số tiền hụi 212.000.000 đồng ( hai trăm mười hai triệu đồng) là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật theo các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà D1 tại phiên Tòa vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của D1 là phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án bà D1 không yêu cầu tính lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bà Trương Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều:
Điều 282, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 217, 218, 227, 228, 235, 244, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị D số tiền hụi 212.000.000 đồng (hai trăm mười hai triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ trả cho bà số tiền vay 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D yêu cầu ông Phan Văn T có nghĩa vụ liên đới với bà N trả cho bà số tiền hụi 212.000.000 đồng (hai trăm mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu 10.600.000 đồng (mười triệu sáu trăm ngàn đồng).
Bà Trương Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do bà Trương Thị D có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí do bà là người cao tuổi nên bà được miễn nộp tạm ứng án phí. Do đó bà Trương Thị D không được nhận lại tiền tạm ứng án phí.
3. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |
Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 123/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
