|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2023/HS-ST
Ngày: 03/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Vũ Thị Phương Hạnh
- Bà Lê Thị Quỳnh Nga
Thư ký phiên toà : Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký TAND Tp Bà Rịa
- Đại diện VKS ND thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 120/2023/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HS ngày 20/10/2023, đối với bị cáo: NGUYỄN THỊ NGỌC D; sinh năm 2003, tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở hiện nay: Tổ I, ấp Đ, L, Tp B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Họ và tên mẹ: Đoàn Thị Quý L, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 18/6/2023 đến ngày 13/9/2023, thay thế bằng biện pháp bão lĩnh do bị cáo có thai. (Bị cáo có mặt)
Người làm chứng:
- Hồ Minh N, sinh năm 2000 (có mặt); Địa chỉ: Tổ 9, ấp Đ, xã L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
- Nguyễn Thành C, sinh năm 2004 (vắng mặt); Địa chỉ: Tổ A ấp B, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1/ Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 18/6/2023, Công an xã L tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà tại tổ I, ấp Đ, xã L, TP. thì phát hiện đối tượng Hồ Minh N và Nguyễn Thị Ngọc D đang có hành vi chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã thu giữ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có gắn ống thủy tinh bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ trên bàn và 01 (một) gói nilon hàn kín dạng túi zip bên trong có chứa kết tinh không màu trong suốt trên tay phải của Nguyễn Thị Ngọc D (N và D khai nhận là chất ma túy đá). Kiểm tra túi xách của đối tượng D phát hiện 01 (một) gói nilon hàn kín bên trong có chứa kết tinh không màu trong suốt, đối tượng D khai nhận là ma túy đá của D cất giấu chuẩn bị bán cho một người tên C.
Tại Cơ quan Công an, D khai nhận: Vào khoảng 8 giờ ngày 18/06/2023, D sử dụng số điện thoại 0783.691.xxx gọi điện thoại cho 01 (một) người phụ nữ có tên thường gọi là S (T1) số điện thoại 0857.541.xxx (không rõ lai lịch cụ thể, là nhân viên của quán cà phê thuộc khu vực Đ, xã A, huyện L, Bà Rịa - Vũng Tàu) hỏi mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Sau đó, D đến điểm hẹn tại khu vực đường H, thuộc thị trấn L, huyện L, Bà Rịa - Vũng Tàu gặp S lấy gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, D mang về nhà của Hồ Minh N để cất giấu. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, một người em tên C liên lạc với D qua M hỏi mua 450.000 đồng ma túy đá, nhưng do ma túy không đủ nên D hẹn bán cho C một gói giá 300.000 đồng. Sau đó, D phân chia gói ma túy vừa mua được thành hai gói ma túy nhỏ gồm một gói nilon dạng túi zip và một gói nilon hàn kín. D cất giấu gói nilon hàn kín bên trong chứa ma túy đá vào trong túi xách màu đen của D để bán cho C. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi D đang xúc ma túy đá trong gói nilon dạng túi zip cho vào dụng cụ để sử dụng cùng với Hồ Minh N thì lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang. Trong bộ dụng cụ sử dụng và trên tay phải D đang cầm một gói nilon dạng túi zip bên trong có ma túy đá. Tiếp tục kiểm tra, Công an phát hiện trong túi xách màu đen của D có một gói nilon hàn kín chứa ma túy đá, D khai đã hẹn một người tên C đến đầu ngõ nhà của N để bán gói ma túy trên cho C. D khai nhận gói ma túy đá bên trong túi xách là của riêng D, N không biết và không liên quan. Ngoài ra D còn khai nhận trước đây đã nhiều lần bán ma túy cho C và một số người khác tên B, B1, Đ1 và V ở xã L, thành phố B.
Hồ Minh N khai: Khoảng 12 giờ 10 phút ngay 18/6/2023, khi N đang ngủ ở nhà tại tổ I, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì D (là bạn gái của N, cùng sống chung như vợ chồng tại địa chỉ trên) kêu N thức dậy để cùng sử dụng ma túy đá. Sau đó, D lấy ra một gói nilon dạng túi zip bên trong có ma túy đá và sử dụng ống hút xúc bỏ vào trong dụng cụ sử dụng. Khi D đang xúc ma túy thì có lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trong dụng cụ sử dụng có ma túy đá, trên tay phải D còn đang cầm gói nylon dạng túi zip còn chứa ma túy đá. Số ma túy trên là của D chuẩn bị để sử dụng cùng N nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. N khai nhận đối với gói ma túy đá thu giữ bên trong túi xách màu đen là của D, N không biết D mua ma túy từ khi nào, việc D khai có bán ma túy cho ai, bán như thế nào thì N hoàn toàn không biết. N không bàn bạc, không góp tiền với D để mua ma túy.
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Thành C: Sáng ngày 18/6/2023, C liên lạc với D qua messager của facebook để hỏi mua ma túy đá. D hẹn C đến đầu ngõ nhà của D đang ở để bán cho C một gói ma túy đá giá 300.000 đồng nhưng khi C đến điểm hẹn, chưa kịp mua ma túy của D thì bị Công an mời làm việc. Ngoài ra, C còn khai nhận trước đây đã mua ma túy của D khoảng 7-8 lần về để sử dụng, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, địa điểm mua bán thường là đầu đường nhà C và đầu đường nhà D.
Qua xét nghiệm, Nguyễn Thị Ngọc D, Hồ Minh N và Nguyễn Thành C đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Thị Ngọc D tại tổ 1, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan Công an không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan.
Tại Kết luận giám định số 284/KL-KTHS-MT ngày 23/6/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B, kết luận:
- Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ trong ống thủy tinh khi bắt quả tang, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng đánh số thứ tự 01/CATP, có hình dấu của Công an xã L, thành phố B gửi giám định có khối lượng 0,0614 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
- Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ trong gói nilon dạng túi Zip thu giữ trên tay phải của Nguyễn Thị Ngọc D khi bắt quả tang, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng đánh số thứ tự 02/CATP, có hình dấu của Công an xã L, thành phố B gửi giám định có khối lượng 0,0419 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
- Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ trong gói nilon hàn kín thu giữ trong túi xách của Nguyễn Thị Ngọc D khi bắt quả tang, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng đánh số thứ tự 03/CATP, có hình dấu của Công an xã L, thành phố B gửi giám định có khối lượng 0,2179 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh B.
3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSTPBR ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như trong Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSTPBR ngày 11/10/2023 và đề nghị HĐXX:
3.1. Về hình phạt chính:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 12 tháng đến 15 tháng tù
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 08 năm tù đến 09 năm tù
3.2. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn lại đang mang thai nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
3.3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) phong bì niêm phong ghi vụ số 284/1, 284/2 và 284/3 ngày 23/6/2023, có dấu mộc đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ2 và giám định viên Hoàng Thị Lan M1, trợ lý giám định Nguyễn Ngọc T2, Đinh Hữu T3; 01 chai nhựa có gắn ống hút dùng để sử dụng ma túy đá; 01 (một) kéo kim loại; 50 (năm mươi) gói nylon dạng túi zip; 01 (một) túi xách màu đen có chữ FASHION MINI GIRL.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di dộng có chữ OPPO màu vàng, Imei 863897036131816; 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ N1, I: 353161113542016, vì bị cáo sử dụng 02 diện thoại này để liên lạc mua bán ma túy
- Hoàn trả cho bị cáo: 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm ngàn đồng), vì đây là tiền bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án:
Bị cáo rất ăn năn, hối lỗi, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, chăm sóc con cái
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với diễn biến của vụ án đã xảy ra, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được và biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, từ đó HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/6/2023, tại Ấp Đ, xã L, thành phố B, Công an xã L bắt quả tang Nguyễn Thị Ngọc D cất giấu trái phép 0,1033 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, do đó hành vi của bị cáo D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Ngoài ra, Nguyễn Thị Ngọc D còn cất giấu trái phép 0,2179 gam, là ma túy, loại Methamphetamine để chuẩn bị bán cho Nguyễn Thành C. Trước đó D đã 7 đến 8 lần bán ma túy cho Nguyễn Thành C, mỗi lần 200.000 đồng đến 400.000 đồng, bán cho những đối tượng nghiện khác tên B, B1, Đ1 và V ở xã L, thành phố B; Bị cáo D nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện, do đó, hành vi của bị cáo D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS;
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên biết được việc sử dụng ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và đồng thời nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là nguồn gốc gây nên nhiều loại tệ nạn, tội phạm khác. Nhưng vì ham chơi đua đòi, muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận quần chúng lao vào con đường phạm tội, do đó cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã tự khai nhận về hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy do đó được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS
[5] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) phong bì niêm phong vụ số 284/1, 284/2; 284/3 ngày 23/6/2023, đóng dấu Phòng K, Công an tỉnh B, có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ2; Hoàng Thị Lan M1, Nguyễn Ngọc T2, Đinh Hữu T3; 01 chai nhựa có gắn ống hút dùng để sử dụng ma túy đá; 01 (một) kéo kim loại; 50 (năm mươi) gói nylon dạng túi zip; 01 (một) túi xách màu đen có chữ FASHION MINI GIRL.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di dộng có chữ OPPO màu vàng, không xác định số Imel; 01 (một) điện thoại di động có chữ Nokia, số Imei: 353161113542016, vì bị cáo sử dụng 02 điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy
- Hoàn trả cho bị cáo 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm ngàn đồng) vì đây là tiền bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội
[6] Các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng tên S (Ti) đã bán ma túy cho D, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi có kết quả sẽ xử lý sau.
- Đối với Hồ Minh N được D rủ và cho ma túy để sử dụng, hoàn toàn không biết số ma túy D có, cũng không bàn bạc, thống nhất, giúp sức cho D thực hiện hành vi mua bán ma túy nên không xử lý hình sự. Xét nghiệm dương tính với ma túy nên Công an T xử phạt hành chính Nghĩa 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp
- Đối với Nguyễn Thành C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã L đã lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc là phù hợp
- Đối với những đối tượng tên B, B1, Đ1, V đã mua ma túy của D, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[7] Về án phí HSST: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”
- [1.1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- [1.2] Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- [1.3] Áp dụng Điều 55 BLHS, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phải chấp hành hình phạt chung của 02 (hai) tội là 09 (chín) năm tù
Khấu trừ thời hạn tạm giam là 02 tháng 28 ngày (từ 18/6/2023 đến 13/9/2023), thời hạn tù còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 08 năm 09 tháng 02 ngày
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án
- [1.1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS
- [2] Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) phong bì niêm phong vụ số 284/1, 284/2; 284/3 ngày 23/6/2023, đóng dấu Phòng K, Công an tỉnh B, có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ2; Hoàng Thị Lan M1, Nguyễn Ngọc T2, Đinh Hữu T3; 01 chai nhựa có gắn ống hút dùng để sử dụng ma túy đá; 01 (một) kéo kim loại; 50 (năm mươi) gói nylon dạng túi zip; 01 (một) túi xách màu đen có chữ FASHION MINI GIRL.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di dộng có chữ OPPO màu vàng, không xác định số Imel; 01 (một) điện thoại di động có chữ Nokia, số I: 353161113542016.
- Hoàn trả cho bị cáo: 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm ngàn đồng).
- (Toàn bộ vật chứng hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bà Rịa đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06 và Giấy nộp tiền mặt số 22359421 cùng ngày 12/10/2023)
- [3] Về án phí HSST: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí
- [4] Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mai |
Bản án số 123/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về hình sự (tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 123/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D bị Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa xử phạt 09 năm tù cho 02 tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
