|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2025/HSST
Ngày 29/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyên;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên
Ông Nguyễn Duy Kiên
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 94/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Mạnh L, sinh năm 1984; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Vũ Văn H, sinh năm 1954; Con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1953; Vợ: Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1984, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H từ ngày 17/12/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.
* Người bị hại:
- Anh Tạ Văn P1, sinh năm 1987. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội - Anh Nguyễn Thành P2, sinh năm 1955. Vắng mặt
Nơi cư trú: Khu A, thôn Đ, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội - Anh Đinh Văn V, sinh năm 1977. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội - Chị Đặng Minh H1, sinh năm 1991. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội - Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1977. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội - Chị Trần Thị Hồng P3, sinh năm 1990. Vắng mặt
Nơi cư trú: K, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội - Anh Nguyễn Viết C, sinh năm 1986. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội - Anh Đỗ Hồng M, sinh năm 1980. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội - Anh Vương Quốc L3, sinh năm 1976. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội - Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1998. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội - Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1984. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên Vũ Mạnh L, sinh năm 1984, trú tại tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội là công nhân của Công ty Đ lợi dụng việc từng tiếp xúc với người dân trong quá trình làm việc đã đưa ra các thông tin sai sự thật và hứa hẹn có thể lắp đặt công tơ điện, di chuyển cột điện, đóng tiền điện một lần hưởng ưu đãi nhằm chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác. Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 10/2024, L đã thực hiện 09 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 03/2023, anh Tạ Văn P1, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Đ, huyện S, Hà Nội nhờ Vũ Mạnh L lắp đặt công tơ điện 3 pha phục vụ sản xuất, mặc dù không có khả năng và thẩm quyền thực hiện công việc nhưng L đồng ý và báo chi phí hết 14.000.000 đồng. Ngày 24/3/2023, anh P1 chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản M1 số 8881987778899 đến tài khoản T2 số 19036780880010 của Vũ Mạnh L. Ngày 14/4/2023, chị Trần Thị N, sinh năm 1987 (vợ anh P1) chuyển tiếp số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản A số 3160205654587 đến số tài khoản 19036780880010 của L. Sau khi nhận tiền, L hứa hẹn 01 tháng sau sẽ đến lắp đặt nhưng không thực hiện. Toàn bộ số tiền trên, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng tháng 6/2023, Vũ Mạnh L giới thiệu là nhân viên điện lực Đ với ông Nguyễn Thành P2, sinh năm 1955, trú tại Khu A, thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội. Do có nhu cầu lắp đặt đường điện 3 pha nên anh P2 đã nhờ L lắp đặt, L báo chi phí hết 18.500.000 đồng, ông P2 đồng ý và đưa số tiền 18.500.000 đồng cho L tại nhà ông P2. Sau khi nhận tiền của ông P2, L hứa hẹn lắp đặt nhiều lần nhưng không thực hiện, ông P2 nhiều lần gọi điện đòi lại số tiền 18.500.000 đồng nhưng L không trả. Toàn bộ số tiền nhận từ ông P2, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Ngày 30/6/2023, Vũ Mạnh L gọi điện thoại cho ông Đinh Văn V, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội đưa ra thông tin gian dối về việc đóng tiền điện trước 01 năm sẽ được giảm tiền. Do biết L là công nhân Công ty Đ nên ông V đã tin tưởng và gửi 02 bảng kê số điện hàng tháng của 02 công tơ điện hết khoảng 56.000.000 đồng/năm của gia đình qua tài khoản Zalo “Điện Lực L”. L báo ông V nếu đóng trước 01 năm thì sẽ được giảm tiền xuống 43.400.000 đồng/năm. Ngày 30/6/2023, ông V chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản V2 số [...] đến tài khoản T2 số 19036780880010 của L. Ngày 06/7/2023, ông V tiếp tục chuyển thêm số tiền 33.400.000 đồng cho L. Sau khi chuyển tiền cho L, hàng tháng ông V vẫn phải trả tiền điện cho Công ty Đ. Biết bị L lừa nên ông V nhiều lần đòi lại số tiền 43.400.000 đồng nhưng L không trả. Toàn bộ số tiền nhận từ ông V, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Khoảng tháng 7/2023, Vũ Mạnh L đưa ra thông tin gian dối về việc Công ty Đ có gói đóng tiền điện kinh doanh trước 06 tháng sẽ được giảm tiền với chị Đặng Minh H1, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội. Do tin tưởng L đang làm việc tại Công ty Đ nên chị H1 đồng ý đóng gói tiền điện 06 tháng với số tiền 45.000.000 đồng theo giới thiệu của L. Ngày 11/7/2023, chị H1 chuyển số tiền 45.000.000 đồng từ tài khoản T2 số 19021937529013 đến tài khoản T2 số 19036780880010 của L. Sau khi chuyển tiền cho L, hàng tháng chị H1 vẫn phải trả tiền điện cho Công ty Đ. Biết bị L lừa nên chị H1 nhiều lần đòi lại tiền. Ngày 20/10/2023, L trả lại cho chị H1 số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền 30.000.000 đồng còn lại, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ năm: Khoảng tháng 8/2023, bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1977, trú tại thôn H, xã P, huyện S, Hà Nội có nhu cầu lắp đặt đường dây điện mới. Do biết Vũ Mạnh L là công nhân Công ty Đ nên bà L2 đã hỏi L về việc lắp đặt đường dây điện. L nhận lời giúp và báo chi phí hết 4.000.000 đồng. Ngày 31/8/2024, bà L2 chuyển số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản T2 số 19030402893017 đến tài khoản T2 số 19036780880010 của L. Sau khi nhận tiền, L không lắp đặt đường điện cho chị L2. Biết bị L lừa nên bà L2 đã nhiều lần liên lạc với L yêu cầu trả lại tiền nhưng L không trả. Số tiền nhận từ bà L2, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ sáu: Khoảng tháng 09/2023, Vũ Mạnh L đưa ra thông tin gian dối về việc Công ty Đ có gói đóng tiền điện trước 01 năm với giá 14.400.000 đồng, tương đương 1.200.000 đồng/tháng sẽ được sử dụng tối đa 2.500.000 đồng/tháng nên chị Trần Thị Hồng P3, sinh năm 1990, trú tại khối A, xã P, huyện S, Hà Nội đồng ý đóng tiền. Ngày 27/9/2023, chị P3 chuyển 14.400.000 đồng từ tài khoản BIDV số D đến tài khoản T2 số19036780880010 của L để đóng tiền điện. Sau khi nhận tiền của chị P3, L sử dụng số tiền 2.872.703 đồng để đóng hộ tiền điện tháng 11/2023 và tháng 12/2023 cho chị P3. Từ tháng 01/2024, chị P3 phải tự đóng tiền điện hàng tháng cho Công ty Đ. Đối với số tiền 11.527.297 đồng còn lại, L không trả lại cho chị P3 mà sử dụng để chi tiêu cá nhận hết.
Vụ thứ bảy: Khoảng tháng 09/2023, Vũ Mạnh L đưa ra thông tin gian dối về việc Công ty Đ có gói đóng tiền điện trước 01 năm với giá 14.400.000 đồng, tương đương 1.200.000 đồng/tháng sẽ được sử dụng tối đa 2.500.000 đồng/tháng nên anh Nguyễn Viết C sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã M, huyện S, Hà Nội đồng ý đóng tiền. Ngày 27/9/2023, anh C chuyển 14.400.000 đồng từ tài khoản BIDV số G đến tài khoản T2 số19036780880010 của L để đóng tiền điện. Sau khi nhận tiền của anh C, L sử dụng số tiền 1.304.881 đồng để đóng hộ tiền điện tháng 11/2023 cho anh C. Từ tháng 12/2023, anh C phải tự đóng tiền điện hàng tháng cho Công ty Đ. Đối với số tiền 13.095.119 đồng còn lại, L không trả lại cho anh C mà sử dụng để chi tiêu cá nhận hết.
Vụ thứ tám: Khoảng tháng 03/2024, anh Đỗ Hồng M, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội có nhu cầu di chuyển cột điện nên đã hỏi ông Vương Quốc L3, sinh năm 1976, trú tại thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội. Do ông L3 quen biết Vũ Mạnh L làm nhân viên Công ty Đ nên đã liên hệ nhờ di chuyển cột điện cho anh M, L đồng ý. Ngày 23/3/2024, L đến nhà anh M trao đổi về việc di chuyển cột điện và báo giá 16.000.000 đồng, anh M đồng ý và chuyển số tiền 16.000.000 đồng từ tài khoản T2 số 19039729254015 đến tài khoản T2 số 19036780880010 của L. L hẹn 15 ngày sau thì sẽ đến di chuyển cột điện.
Sau đó, ông L3 cũng muốn di chuyển cột điện trước cửa nhà mình nên tiếp tục nhờ L. Vũ Mạnh L báo giá 16.000.000 đồng, ông L3 đồng ý. Ngày 25/3/2025 và ngày 26/3/2025, anh L3 lần lượt chuyển số tiền 3.000.000 đồng và 13.000.000 đồng từ tài khoản BIDV số B đến tài khoản T2 số 19036780880010 của L.
Biết việc ông L3 nhờ L di chuyển cột điện, chị Nguyễn Thu T sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội (cháu ông L3) nhờ ông L3 liên hệ để nhờ L di chuyển cột điện và lắp công tơ điện cho gia đình. Sau khi ông L3 liên hệ thì L báo giá 19.000.000 đồng (trong đó bao gồm 17.000.000 đồng tiền di chuyển cột điện và 2.000.000 đồng tiền lắp đặt công tơ mới). Chị T đồng ý, ngày 27/3/2024 và 02/4/2024 anh Trương Quốc V1, sinh năm 1997 (chồng của T), chuyển lần lượt số tiền 17.000.000 đồng và 2.000.000 đồng từ tài khoản BIDV số B1 đến tài khoản BIDV số 2142237927 của ông L3. Ngay sau khi nhận tiền của anh V1, ông L3 đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng đến tài khoản của L. Sau đó, L yêu cầu ông L3 chuyển thêm 1.000.000 đồng tiền lắp công tơ điện. Ngày 16/4/2024, ông L3 đã chuyển thêm 1.000.000 đồng cho L qua tài khoản ngân hàng.
Do L không thực hiện việc di chuyển cột điện và lắp công tơ điện như đã hứa nên ông L3, anh M nhiều lần liên lạc cho L để đòi lại tiền nhưng đến nay L không trả lại tiền. Toàn bộ số tiền nhận từ ông L3, anh M, chị T, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ 9: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã M, huyện S, Hà Nội biết Vũ Mạnh L làm nhân viên Công ty Đ nên đã nhờ L lắp đặt công tơ điện 3 pha phục vụ kinh doanh. L đồng ý và báo giá 16.600.000 đồng. Ngày 11/10/2024 và 15/10/2024, chị T1 chuyển lần lượt số tiền 15.000.000 đồng và 1.600.000 đồng từ tài khoản T2 số 10521673703011 đến tài khoản T2 số 19036780880010 của L. Sau khi nhận tiền L không đến lắp đặt cho chị T1 và không trả tiền cho chị T1. Số tiền nhận từ chị T1, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Tổng số tiền Vũ Mạnh L đã chiếm đoạt của 11 bị hại là 222.300.000 đồng.
Xác minh tại Công ty Đ xác định, Vũ Mạnh L ký hợp đồng làm việc với Công ty từ năm 2008, nhiệm vụ được phân công là vận hành và quản lý trạm biến áp trên địa bàn huyện S. Đến ngày 05/02/2024, Công ty Đ chấm dứt hợp đồng lao động với L. Trong thời gian L làm việc và sau khi chấm dứt hợp đồng, Công ty Đ không giao nhiệm vụ, không ủy quyền cho L thực hiện các công việc: Lắp đặt công tơ điện, di chuyển cột điện. Công ty Đ cũng không có chính sách đóng tiền điện một lần được giảm giá. Việc L hứa hẹn với các bị hại để nhận tiền, Công ty Đ không biết.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Note 10 Plus màu Auraglow, đã qua sử dụng.
Về dân sự: Các bị hại yêu cầu Vũ Mạnh L phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể: Anh Tạ Văn P1 14.000.000 đồng; Ông Nguyễn Thành P2 18.500.000 đồng; Ông Đinh Văn V 43.400.000 đồng; Chị Đặng Minh H1 30.000.000 đồng; Bà Nguyễn Thị L2 4.000.000 đồng; Chị Trần Thị Hồng P3 11.527.297 đồng; Anh Nguyễn Viết C 13.095.119 đồng; Ông Vương Quốc L3 17.000.000 đồng; Anh Đỗ Hồng M 16.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thu T 19.000.000 đồng; Chị Phạm Thị T1 16.600.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên, phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 07/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- + Xử phạt Vũ Mạnh L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 10 Plus.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho những người bị hại, cụ thể: Anh Tạ Văn P1 14.000.000 đồng; Ông Nguyễn Thành P2 18.500.000 đồng; Ông Đinh Văn V 43.400.000 đồng; Chị Đặng Minh H1 30.000.000 đồng; Bà Nguyễn Thị L2 4.000.000 đồng; Chị Trần Thị Hồng P3 11.527.297 đồng; Anh Nguyễn Viết C 13.095.119 đồng; Ông Vương Quốc L3 17.000.000 đồng; Anh Đỗ Hồng M 16.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thu T 19.000.000 đồng; Chị Phạm Thị T1 16.600.000 đồng.
Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định:
Từ khoảng tháng 03/2023 đến tháng 10/2024, do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Vũ Mạnh L dùng thủ đoạn gian dối đưa ra các thông tin không đúng để thực hiện 09 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của: Anh Tạ Văn P1, ông Nguyễn Thành P2, ông Đinh Văn V, chị Đặng Minh H1, bà Nguyễn Thị L2, chị Trần Thị Hồng P3, anh Nguyễn Viết C, ông Vương Quốc L3, anh Đỗ Hồng M, chị Nguyễn Thu T, chị Phạm Thị Thanh thông Q việc các bị hại nhờ di chuyển cột điện, lắp công tơ điện 3 pha, đóng tiền điện để hưởng ưu đãi. Tổng số tiền L đã chiếm đoạt của các bị hại là 222.300.000 đồng, L đã chi tiêu cá nhân hết.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây thiệt hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân tại địa phương.
Tuy nhiên khi lượng hình đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tính chất mức độ phạm tội: Tội của bị cáo phạm phải là tội rất nghiêm trọng.
Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, khó khăn về kinh tế nên miễn hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố H có thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 10 Plus của L, xét chiếc điện thoại này L sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ
[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại, cụ thể: Anh Tạ Văn P1: 14.000.000 đồng. Ông Nguyễn Thành P2: 18.500.000 đồng. Ông Đinh Văn V: 43.400.000 đồng. Chị Đặng Minh H1: 30.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L2: 4.000.000 đồng. Chị Trần Thị Hồng P3: 11.527.297 đồng. Anh Nguyễn Viết C: 13.095.119 đồng. Ông Vương Quốc L3: 17.000.000 đồng; Anh Đỗ Hồng M: 16.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thu T 19.000.000 đồng; Chị Phạm Thị T1: 16.600.000 đồng.
[7] Các vấn đề khác:
Bị cáo phải nộp án phí và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Mạnh L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
-
Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Vũ Mạnh L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 10 Plus, màu Auraglow, số seri RF8N11743FK, kiểu máy SM-N975FIDS.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 468, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại, cụ thể: Anh Tạ Văn P1: 14.000.000 đồng. Ông Nguyễn Thành P2: 18.500.000 đồng. Ông Đinh Văn V: 43.400.000 đồng. Chị Đặng Minh H1: 30.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L2: 4.000.000 đồng. Chị Trần Thị Hồng P3: 11.527.297 đồng. Anh Nguyễn Viết C: 13.095.119 đồng. Ông Vương Quốc L3: 17.000.000 đồng; Anh Đỗ Hồng M: 16.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thu T: 19.000.000 đồng; Chị Phạm Thị T1: 16.600.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, thì bị cáo còn phải trả cho người bị hại số tiền lãi theo mức lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương đương với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm chậm trả.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.156.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuyên |
Bản án số 123/2025/HSST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 123/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
