|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:123/2025/HSST
Ngày: 26 -06-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Bảo Thuỳ
- 2. Bà Đặng Thị Nga
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lanh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện KSND Thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025 tại hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2025/TLST-HS ngày 22/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HS ngày 04/6/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 15 ngày 17/6/2025 đối với bị cáo:
Hoàng Văn K; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995; Nơi sinh: Nghệ An; Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1967; và bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974; Gia đình có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" từ ngày 27/2/2025 cho đến nay.
* Người làm chứng:
- Anh Tống Văn B, sinh năm 1994. Địa chỉ: A T, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Đào Ngọc H, sinh năm. Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Tống Văn B là chủ cửa hiệu cầm đồ Bảo Long tại số A T, khu phố C, phường X, thành phố L. Từ tháng 12/2020, anh B thuê Nguyễn Duy L, sinh năm 2001, ngụ tại thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa làm nhân viên quản lý cửa hiệu. L làm việc và sinh sống tại cửa hiệu, hàng ngày L trực tiếp giao dịch với khách hàng, nhận - trả các tài sản do khách cẩm cố và giữ tiền kinh doanh của cửa hiệu. Cứ khoảng một vài tuần thì anh B sẽ đến kiểm tra các hoạt động kinh doanh tại cửa hiệu một lần. Quá trình kinh doanh, anh B và L đã nhận cầm tài sản của nhiều khách hàng khác nhau, trong đó có cầm tài sản của 02 khách hàng như sau: Ngày 22/3/2021, anh B nhận cầm 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B3-326.31 của chị Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1992, ngụ tại khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai với giá 30 triệu đồng. Ngày 26/02/2022, L nhận cầm xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B7-582.78 của chị Nguyễn Phan Quỳnh A, sinh năm 1990, ngụ tại khu phố A, phường X (nay là phường X), thành phố L với giá 32 triệu đồng.
Hoàng Văn K và Nguyễn Duy L có mối quan hệ quen biết từ tháng 12/2021 và thường đi chơi với nhau. Kế đã nhiều lần ghé cửa hiệu cầm đồ Bảo Long nên biết công việc của L tại cửa hiệu cầm đồ và biết L không có xe mô tô.
Lợi dụng việc được anh B giao toàn quyền quản lý kinh doanh, giữ tiền và tài sản tại cửa hiệu cầm đồ Bảo Long nên L đã nảy sinh ý định rồi nhiều lần chiếm đoạt tài sản của anh B mang đi cầm lấy tiền tiêu xài, cụ thể: Khoảng 12 giờ 00 ngày 08/3/2022, L điện thoại hỏi K ở xã X có biết chỗ nào cầm đồ không thì K bảo biết. Sau đó, L và K hẹn gặp nhau tại ngã tư X. L tự ý lấy xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B3-326.31 tại cửa hiệu chạy đến điểm hẹn gặp K và nói muốn cầm xe mô tô này. Kế dẫn L đến cửa hiệu cầm đồ 368 tại ấp T, xã X, huyện X. L vào gặp anh Đào Ngọc H (chủ cửa hiệu) giấy cầm đồ là K vì K là dân địa phương, có quen biết với anh H. L ra nhờ K giúp đỡ nên K đã đồng ý đứng tên ký giấy cầm xe của L cho anh H với giá 30 triệu đồng. Số tiền này, L mang về tiêu xài hết, không chia cho K.
Khoảng 12 giờ ngày 09/3/2022, L tiếp tục tự ý lấy xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B7-582.78 tại cửa hiệu cầm đồ Bảo Long mang đến cửa hiệu cầm đồ 368 cầm cho anh H với giá 35 triệu đồng và cũng nhờ K đứng tên ký giấy cầm xe cho anh H như lần trước. Số tiền cầm xe, L tiêu xài hết và cũng không có cho K.
Đối với 02 lần Kế ký tên trên giấy cầm đồ để giúp L cầm 02 xe mô tô nêu trên thì K biết 02 xe mô tô này do L lấy từ cửa hiệu cầm đồ Bảo Long ra và không phải do L đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, do nể tình quen biết nên K đã 02 lần giúp L cầm 02 xe mô tô mà không cần được L cho lợi ích gì. Sau khi phát hiện bị chiếm đoạt tài sản, anh Tống Văn B đã làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt của Nguyễn Duy L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành thu giữ xe mô tô biển số 60B3-326.31 và xe mô tô biển số 60B7-582.78 tại
cửa hiệu cầm đồ 368 của anh Đào Ngọc H. Hành vi của Nguyễn Duy L đã bị khởi tố và xét xử xong về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Riêng hành vi của Hoàng Văn K được tách ra để xử lý bằng một vụ án độc lập.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/HĐĐGTSTTTHS ngày 10/5/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kêt luận: - Một xe mô tô gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 60B3- 326.31 màu trắng ngà, xe đã qua sử dụng, thời điểm ngày 08/3/2022 có giá trị là 35.500.000 đồng. -Một xe mô tô gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 60B7- 582.78 màu xanh lợt, xe đã qua sử dụng, thời điểm ngày 08/3/2022 có giá trị là 39.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và xử lý: Đối với xe Honda SH Mode biển số 60B3- 326.31 và xe Honda SH Mode biển số 60B7-582.78 hiện đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Diễm M và chị Nguyễn Phan Quỳnh A.
Về dân sự: Anh Đào Ngọc H yêu cầu Hoàng Văn K bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, hiện K đã bồi thường xong.
Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSLK ngày 20/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Hoàng Văn Kế về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1, Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
- - Vật chứng thu giữ và xử lý: Đã giải quyết xong;
- - Về dân sự: Đã giải quyết xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa bị cáo khai do cả nể L là bạn nên vào khoảng 12 giờ ngày 08/3/2022, khi nghe L nhờ hỏi tìm chỗ cầm tài sản, K dẫn L đến cửa hiệu cầm đồ 368 tại ấp T, xã X, huyện X của anh Đào Ngọc H làm chủ. Do anh H không đồng ý cho L cầm xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B3-326.31 vì
không chính chủ và K là dân địa phương, có quen biết với anh H và L nhờ K giúp đỡ, K đồng ý đứng tên ký giấy cầm xe cho anh H với giá 30 triệu đồng. Số tiền này, L mang về tiêu xài hết, không chia cho K.
Khoảng 12 giờ ngày 09/3/2022, L tiếp tục lấy xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B7-582.78 của cửa hiệu cầm đồ Bảo L1 mang đến cầm cho anh H với giá 35 triệu đồng và cũng nhờ K đứng tên ký giấy cầm xe cho anh H như lần trước. Số tiền cầm xe, L1 tiêu xài hết và cũng không có cho K. Sau khi anh Tống Văn B tố cáo hành vi của L1 thì hành vi của L1 đã bị khởi tố và xét xử xong về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Riêng hành vi của Hoàng Văn K được tách ra để xử lý bằng một vụ án độc lập.
Qua định giá, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 60B3- 326.31 có giá trị là 35.500.000 đồng; xe mô tô gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 60B7- 582.78 có giá trị là 39.500.000 đồng.
Bị cáo Kế thừa N do thiếu hiểu biết pháp luật và tin tưởng bạn nên đã 02 lần đứng tên cầm cố tài sản do L1 phạm tội mà có nên cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
- [3] Bị cáo K nhận thức được tài sản mà L1 nhờ dẫn đi cầm là không phải của L1, khi anh H không đồng ý cầm cho L1 thì K đồng ý là người đứng ra cầm xe khi L1 nhờ. Không những bị cáo giúp một lần mà thực hiện 02 lần trong 02 ngày liên tiếp mặc dù không hưởng lợi gì từ việc cầm xe giúp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự xã hội, gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần đưa ra xét xử nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung là cần thiết.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường xong cho người bị hại và người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 – BLHS.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo là đủ nghiêm.
- [5] Về vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu.
- [6] Về phần dân sự: Đã bồi thường xong và người bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- [7] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm của Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 323, điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/ VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải Yến |
Bản án số 123/2025/HSST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 123/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn K Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
